phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm khách hàng cá nhân Theo Đặng Quang Duy (2020): “Khách hàng cá nhân là một ngƣời hoặc một nhóm đã, đang và sẽ sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc hộ gia đình. Nhóm khách hàng này có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.” Nhóm KHCN thƣờng mang các đặc điểm sau đây: Nhóm KHCN thường chiếm số lượng đông đảo nhưng quy mô mỗi KH không đáng kể. Nhƣ đã nói ở trên thì KHCN bao gồm các cá nhân và hộ gia đình nên nhóm này đang có xu hƣớng chi tiêu nhiều hơn do thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng lên và đời sống xã hội ngày càng hiện đại, phát triển hơn.
Vì có tính đông đảo nên nếu so với KHDN thì KHCN đòi hỏi các sản phẩm phải mang tính xã hội hóa cao hơn. Đây là mảng thị trƣờng kinh doanh giàu tiềm năng cho các NHTM. Tuy nhiên, mỗi hợp đồng cung cấp dịch vụ cho KHCN thƣờng có giá trị không lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu của mỗi cá nhân thƣờng không có tính chu kỳ lặp đi lặp lại.
Do đó, để hoạt động hiệu quả thì các NH ngoài phải tăng số lƣợng KH còn phải tích hợp các dịch vụ sao cho cung cấp cho một KH đƣợc nhiều sản phẩm nhất có thể. Nhóm KHCN rất đa dạng về độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập. Vì vậy, mỗi NHTM cũng cần đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ của mình, nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống CNTT để không chỉ đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhiều KH khác nhau mà còn để cạnh tranh với các NH khác. Nhu cầu của nhóm KHCN thường xuyên thay đổi và mang tính thời điểm.
Nếu thị trƣờng bán buôn của NH có tính ổn định, thì ngƣợc lại thị trƣờng NH 7 bán lẻ lại nhiều biến động hơn. Nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ của nhóm KHCN thƣờng liên tục thay đổi tùy thuộc vào từng thời điểm. Do đó, đòi hỏi các NHTM phải nhạy bén trong việc dự đoán xu hƣớng biến động nhu cầu của KH, từ đó phát triển các sản phẩm phù hợp, đồng thời đƣa ra các điều chỉnh tăng giảm phí và lãi hay lựa chọn thời điểm khuyến mãi phù hợp. Chi phí giao dịch phục vụ cho nhóm KHCN rất lớn.
Nhƣ đã nêu ở trên, số lƣợng KH và giao dịch cá nhân rất nhiều, nhƣng mỗi giao dịch lại có quy mô nhỏ lẻ, do đó tốn kém nhiều chi phí nhƣ chi phí tổ chức, thẩm định, giám sát, quản lý khoản vay,. Đây cũng là nguyên nhân khiến KHCN phải đi vay với mức lãi suất cao hơn so với KHDN. Hoạt động cho vay KHCN có sự phân tán rủi ro. Trong khi giá trị mỗi giao dịch bán buôn là rất lớn nên nếu một KHDN gặp vấn đề về kinh doanh và không có đủ tài chính để trả nợ thì có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho NH.
Ngƣợc lại, giá trị mỗi giao dịch bán lẻ là không đáng kể nên nếu một số KHCN gặp khó khăn về tài chính thì cũng ít gây rủi ro cho NH hơn so với hoạt động bán buôn. Do đó, rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN sẽ đƣợc các ngân hàng chia nhỏ và phân tán ra cho rất nhiều khách hàng. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Ngay từ khi hình thái công xã nguyên thủy tan rã, đã nảy sinh quan hệ tín dụng.
Khi xuất hiện chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, quan hệ hàng đổi hàng cũng đồng thời xuất hiện. Hình thức tín dụng đã chuyển từ vay mƣợn bằng hiện vật hàng hóa sang vay mƣợn bằng tiền tệ. Tín dụng có thể ra đời, tồn tại và phát triển thành một phạm trù kinh tế là vì quá trình tái sản xuất xã hội có mẫu thuẫn về tuần hoàn vốn. Hiểu nôm na, tín dụng là “việc chuyển nhƣợng một lƣợng giá trị từ bên cho vay sang bên đi vay trong thời gian nhất định, sau khi kết thúc hợp đồng bên đi vay phải hoàn trả lại bên cho vay với một lƣợng giá trị lớn hơn ban đầu.” Hoạt động tín dụng của NHTM là “thỏa thuận giữa ngân hàng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) về việc chuyển giao một số lƣợng tiền trong một thời 8 gian nhất định.
Tới thời hạn, khách hàng có nghĩa vụ thanh toán vô điều kiện cho ngân hàng tất cả gốc và lãi.” Có thể nói hoạt động tín dụng đóng vai trò cốt lõi trong hoạt động của NHTM bởi tỷ lệ dƣ nợ tín dụng trên tổng tài sản thƣờng chiếm hơn 50%. Trong tổng thu nhập của NHTM thì thu nhập từ hoạt động tín dụng là lớn nhất. Vì vậy lợi nhuận tạo ra từ tín dụng cũng chiếm tỷ trọng cao nhất. Dựa vào khái niệm trên về “tín dụng ngân hàng”, ta có thể định nghĩa: “Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò là ngƣời chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là các cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời gian nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể.
Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Thạch Việt Anh (2020), hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng biệt sau: Các khoản cho vay KHCN có số lượng lớn nhưng từng khoản vay có quy mô nhỏ lẻ. Bởi lẽ các cá nhân và hộ gia đình thƣờng đi vay vốn NH nhằm phục vụ hai mục đích chính là: “(i) Đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá nhân cho cuộc sống nhƣ: mua hoặc sửa chữa nhà, mua ô tô, đồ nội thất, đi du học,…; (ii) Bổ sung nguồn vốn để đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ của hộ gia đình.” Hai mục đích vay này không đòi hỏi một khoản vay phải quá lớn, nhƣng do số lƣợng KH rất nhiều và đa dạng nhu cầu nên tổng tất cả các khoản cho vay này lại rất lớn. Tâm lý KH và chu kỳ kinh tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay vốn. Khi KHCN lạc quan về tình hình của nền kinh tế, họ mong đợi sẽ có thu nhập cao hơn, làm ăn tốt hơn trong tƣơng lai, vì vậy ở hiện tại họ có xu hƣớng chi tiêu mua sắm hoặc sản xuất kinh doanh nhiều hơn.
Trái lại, khi nền kinh tế gặp suy thoái, ngƣời dân sẽ hạn chế vay mƣợn NH để chi tiêu mua sắm và đầu tƣ kinh doanh, mà sẽ chuyển sang tiết kiệm nhiều hơn. Ngoài ra, thu nhập và trình độ học vấn của KHCN cũng quyết định đến nhu cầu vay. 9 Hoạt động tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro lớn nhất trong số các hoạt động của NHTM. Ngoài việc KH có mục đích vay hợp lý, có TSBĐ và khả năng tài chính tốt, thì một trong những điều kiện tiên quyết để các NHTM đƣa ra kết luận phê duyệt khoản vay hay không chính là thẩm định thông tin cá nhân và lịch sử tín dụng của KH.
Tuy nhiên, NHTM sẽ gặp rủi ro bất cân xứng thông tin nên việc thẩm định KH thƣờng khó đầy đủ và chính xác. NHTM chỉ có thể dựa vào nguồn thu nhập hiện tại để phán đoán năng lực trả nợ của KH trong tƣơng lai, mà khó ngờ trƣớc đƣợc các biến động về tình hình sức khỏe, công việc và tài chính của KH có thể gây mất khả năng trả nợ cho NH hay do chính bản thân KH không muốn trả nợ. Bên cạnh đó, rủi ro còn xuất phát từ chính trong nội tại NH mà hay gặp nhất là do sự sai sót về nghiệp vụ của các CBTD, thậm chí còn có trƣờng hợp CBTD tiếp tay cho KH làm trái quy định gây thiệt hại cho NH hoặc lợi dụng lừa đảo chiếm đoạt tài sản của KH. Hoạt động cho vay KHCN có mức lãi suất cao hơn so với cho vay KHDN.
Nguyên nhân là vì quy mô mỗi khoản vay thƣờng tƣơng đối nhỏ nên mất nhiều chi phí hơn cho việc tổ chức, thẩm định, giám sát và quản lý khoản vay. Các NHTM vẫn luôn coi các khoản cho vay KHCN là có rủi ro cao nhƣng đồng thời cũng mang lại lợi nhuận cao. Sở dĩ NH chấp nhận mạo hiểm vì nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của NH. NHTM xác định hạn mức cho vay KHCN dựa trên nhu cầu vốn, số vốn tự có của KH và giá trị TSBĐ.
Thông thƣờng, các NH cần phải định giá chính xác giá trị TSBĐ để làm căn cứ quyết định hạn mức tín dụng dựa trên tài sản đó. Các NHTM phải so sánh nhu cầu vay hợp lý của KH với hạn mức tín dụng dựa trên việc định giá TSBĐ sao cho không quá thấp để đủ thỏa mãn nhu cầu vay của KH, cũng không quá cao để đảm bảo an toàn cho NH từ đó xác định số tiền cho vay. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân a) Phân loại dựa vào mục đích cho vay Cho vay cư trú: Các KH có nhu cầu mua nhà ở, xây dựng, sửa chữa nhà cửa 10 cho bản thân hoặc gia đình, sẽ đƣợc các NHTM cấp cho khoản vay có quy mô lớn và thời gian tƣơng đối dài. Cho vay tiêu dùng: NHTM sẽ cấp cho KH một khoản vay có quy mô nhỏ, thời gian ngắn và rủi ro thấp hơn so với cho vay cƣ trú, để phục vụ mục đích tiêu dùng của họ nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống.