CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm DNV&N Theo khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại đa dạng các loại hình doanh nghiệp, tùy theo từng cách tiếp cận mà có thể phân chia các doanh nghiệp thành các loại hình khác nhau; trong đó, nếu căn cứ vào quy mô thì có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNV&N. Mỗi quốc gia với từng điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ nhất định sẽ có những tiêu chí riêng để phân chia loại hình doanh nghiệp sao cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển. Nước Việt Nam ta với chính sách phát triển đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhằm kế thừa và phát huy những tiềm năng sẵn có, các DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn và giữ vị trí ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Tại Việt Nam, theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30-06-2009 về trợ giúp phát triển DNV&N quy định: “DNV&N là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: 4 Bảng 1.1: Phân loại DNV&N theo khu vực kinh tế ở Việt Nam DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Ngành Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng đến người đến xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và xây dựng xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và dịch vụ xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP 1.
Đặc điểm của DNV&N Thứ nhất, DNV&N tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại và phát triển gồm nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp, từ doanh nghiệp nhà nước, công ty tư nhân tới các hợp tác xã. DNV&N được lựa chọn các ngành nghề kinh doanh trong các lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Công nghiệp, Xây dựng, Thương mại,… phù hợp với quy định của Nhà nước. Các doanh nghiệp nói chung và các DNV&N nói riêng được kinh doanh bình đẳng trước Pháp luật trong các lĩnh vực của nền kinh tế trên mọi miền đất nước.
Thứ hai, DNV&N có tính linh hoạt và thích ứng cao. Xuất phát từ đặc điểm có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không lớn, cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, DNV&N dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào những ngành nghề khác khi thấy lĩnh vực đó có lợi hơn. Mặt khác, cơ cấu gọn nhẹ cũng giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý, giám sát, tiết kiệm chi phí, hạn chế sự sai lệch thông tin. Hơn nữa, các DNV&N cũng không gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi địa 5 điểm sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, DNV&N có thể dễ dàng nắm bắt được những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương, giúp cho doanh nghiệp khai thác hết năng lực của mình, đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Thứ ba, khả năng thu hồi vốn nhanh. DNV&N là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động, mô hình quản lý đơn giản, linh hoạt trong việc phát triển kinh tế. Do quy mô nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp nên các doanh nghiệp có khả năng thu hồi vốn nhanh, hạn chế được tình trạng ứ đọng vốn trong quá trình tái sản xuất.
Thứ tư, năng lực quản lý, điều hành của chủ DNV&N còn chưa cao. Chủ DNV&N thành lập doanh nghiệp do có sẵn mối quan hệ với các kênh cung ứng trên thị trường; nhiều doanh nghiệp điều hành quản trị theo kiểu gia đình; việc tách bạch giữa các bộ phận trong doanh nghiệp chưa rõ ràng. Một bộ phận chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo chính quy, thậm chí còn thiếu hiểu biết về mặt pháp lý. Thứ năm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế.
Các DNV&N hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng vẫn còn tương đối lạc hậu và không đồng bộ. Quy mô nhỏ, cơ sở vật chất, trình độ tay nghề kém nên chất lượng sản phẩm không cao, năng suất lao động thấp. DNV&N ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao do không thể trả lương cao và có những chính sách đãi ngộ hấp dẫn. Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn chưa kịp thời.
Tất cả những điều này đã làm giảm tính cạnh tranh của DNV&N, tạo ra rào cản làm sản phẩm của doanh nghiệp khó tiếp cận với thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng không thể thiếu của các DNV&N trong nền kinh tế với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực. Thứ nhất, DNV&N thu hút lao động, giải quyết áp lực xã hội về việc làm, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Các DNV&N phân bổ rộng khắp các vùng miền và đa dạng trong nhiều ngành nghề, hơn nữa, các DNV&N không đòi hỏi trình độ quá cao nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm và tăng 6 thu nhập, đảm bảo đời sống cho nhiều lao động.
Các DNV&N ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, vì thế, nếu có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của Nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội thì khả năng đóng góp của thành phần kinh tế này vào tăng trưởng kinh tế sẽ ngày càng lớn hơn. Thứ hai, DNV&N cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người cũng ngày càng tăng lên. Các DNV&N có thể cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tiện lợi cho thị trường, đáp ứng các nhu cầu dân sinh trong xã hội.
Bên cạnh những ngành nghề truyền thống, còn có các dịch vụ mới phát triển hiện đại. Thứ ba, DNV&N hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp lớn, là nền tảng để hình thành các doanh nghiệp lớn mạnh trong nền kinh tế thị trường. Việc phát triển lực lượng DNV&N sẽ là bước đệm cho nền kinh tế phát triển vững chắc và hội nhập sâu rộng trong thương mại quốc tế. Thứ tư, DNV&N tận dụng các nguồn lực một cách hiệu quả.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau từ các tầng lớp dân cư. Số lượng DNV&N lớn và phân tán ở nhiều địa phương khác nhau, vì thế sẽ tận dụng được lao động, nguyên vật liệu hay các sản phẩm phụ tại địa phương đó. DNV&N tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, thúc đẩy chuyên môn hóa. Với vai trò ngày một quan trọng đối với nền kinh tế, các DNV&N rất cần nhận được những sự khuyến khích, hỗ trợ của Chính phủ để phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa.
Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM 1. Hoạt động cho vay của NHTM 1. Khái quát về NHTM NHTM là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Sự hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Khái niệm về ngân hàng có thể được đưa ra dựa trên nhiều cách tiếp cận khác 7 nhau. Ta có thể hiểu một cách chung nhất: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chứng năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Trong đó, NHTM là một TCTD thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng, đó là huy động vốn và sử dụng vốn. Có thể nói, NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, tập trung vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vốn vào nơi thiếu hụt.
Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Các hoạt động cơ bản của NHTM: - Hoạt động huy động vốn: hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân hàng, làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, gồm các hình thức nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay các TCTD khác, vay vốn ngắn hạn của NHTW,… - Hoạt động tín dụng: là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Như vậy, có thể hiểu, tín dụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả việc đi vay và cho vay.
Trong đó, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hoạt động của NHTM. - Hoạt động dịch vụ: NHTM được phép cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép, thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng,… 1. Hoạt động cho vay của NHTM Có nhiều cách để phân loại các hình thức cho vay tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng.