chương 1 Luật doanh nghiệp 2020 “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Doanh nghiệp thực hiện quá trình kinh doanh một cách liên tục, bao gồm một, một số hoặc tất cả các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Tại Việt Nam, hiện nay, do sự thay đổi của thị trường cùng với sự đa dạng trong hoạt động của doanh nghiệp, chính phủ đã ban hành nghị định 39/2018/NĐ- CP với mục đích phân loại và hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp, nghị định chỉ ra các tiêu chí về nguồn vốn và doanh thu cho các doanh nghiệp trong từng lĩnh vực.1: Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng Số lao Tông Số lao Tông Số lao nguồn động nguồn động nguồn động Khu vực vốn hoặc TG vốn hoặc TG vốn hoặc TG tổng BHXH tổng BHXH tổng BHXH doanh thu (người) doanh thu (người) doanh thu (người) (tỷ đồng) (tỷ đồng) (tỷ đồng) I. Nông, lâm NV 3 10 NV 20 100 NV 100 200 nghiệp và thủy DT 3 DT 50 DT 200 9 sản II.Công nghiệp NV 3 10 NV 20 100 NV 100 200 xây dựng DT 3 DT 50 DT 200 III.Thương mại NV 3 10 NV 50 50 NV 100 100 và dịch vụ DT 10 DT 100 DT 300 (Nguồn : Nghị định 39/2018/NĐ-CP) 2.
Đặc điểm DNVVN ở Việt Nam DNVVN mang đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung, hoạt động và kinh doanh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, DNVVN cũng có những đặc điểm riêng. Thứ nhất, sự đơn giản trong quy mô, tổ chức nên rất linh hoạt, nhạy bén với sự thay đổi của thị trường. Tính chất hoạt động của DNVVN chủ yếu tập trung ở khu chế biến và dịch vụ, gần với người tiêu dùng, thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế, có khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính chất khu vực.
Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ tạo điều kiện giúp các DN tổ chức và giám sát tình hình kinh doanh chặt chẽ và hiệu quả hơn, các quyết định quản lý được thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát, điều hành trực tiếp. Thứ hai, quy mô hoạt động nhỏ nên ít phụ thuộc vào trang thiết bị, dễ dàng đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí thấp DN quy mô hoạt động nhỏ, dễ tiến hành việc đổi mới trang thiết bị, khoa học công nghệ khi điều kiện cho phép. Trong thời đại phát triển khoa học công nghệ, nhất là với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: “Công nghiệp 4.0” hiện nay, đó là ưu thế lớn giúp DNVVN có thể đạt hiệu quả kinh tế cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của DN còn nhiều hạn chế về vốn. Thứ ba, trình độ quản lý và lao động hạn chế 10 DNVVN do hạn chế về tài chính nên gặp khó khăn trong việc thu hút được các nhà quản lý và lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Về công tác đào tạo, chưa xây dựng được hoàn thiện các quy trình đào tạo rõ ràng, phần lớn lao động chưa qua đào tạo dẫn đến tốn kém chi phí nhân lực, không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh. Với những khó khăn và hạn chế về DNVVN đã nêu trên, đòi hỏi công tác hỗ trợ của nhà nước và sự cải tiến, khắc phục trong chính nội tại DN. Từ những đặc điểm của các DNVVN ở Việt Nam cùng với môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc hỗ trợ phát triển DNVVN là nhiệm vụ hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế. Vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại của các thành phần kinh tế, các loại hình DN với quy mô và trình độ khác nhau là một tất yếu khách quan.
Mỗi hình thức DN có một vai trò riêng trong nền kinh tế. Riêng DNVVN hiện nay có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam: Góp phần tạo nhiều việc làm cho người lao động. Vấn để giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia phát triển. Sự tồn tại và phát triển của DNVVN đã góp phần ổn định các yếu tố vĩ mô trong nền kinh tế như giải quyết việc làm, đóng góp GDP và tăng trưởng kinh tế.
Tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là DNVVN, chiếm hơn 97% tổng số các DN trong cả nước với đa dạng các ngành nghề, hàng năm tạo ra thêm trên nửa triệu lao động mới, sử dụng 51% lao động xã hội, đóng góp vào GDP hơn 40%. Cung cấp khối lượng hàng hóa đa dạng và phong phú về số lượng, chất lượng và chủng loại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với việc chiếm số lượng đông đảo, thu hút nguồn tài nguyên lớn của xã hội, đa dạng về ngành nghề, DNVVN đã tạo ra cho nền kinh tế số lượng lớn về hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu, góp phần thúc đẩy 11 tăng trưởng kinh tế. Nhà nước đặc biệt khuyến khích các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, thủy sản.
phát triển góp phần tăng GDP. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Với ưu thế phân tán rộng khắp, đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực đã giúp DNVVN tạo lập sự cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền, đồng đều giữa các lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra, việc trao đổi mua bán giúp chuyển dịch cơ cấu vốn, tăng tỷ trọng các ngành thương mại dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tạo động lực khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc. Như vậy, DNVVN đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trên giác độ ngân hàng, các NHTM cần có những biện pháp hỗ trợ giúp các DNVVN, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng gia nhập thị trường, có nguồn vốn thường xuyên phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động tín dụng của NHTM 2.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Xem xét ở một góc độ hẹp hơn, bản chất của tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, bằng tài sản hay uy tín với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính khác. Như vậy, tín dụng ngân hàng gồm các bản chất sau: - Tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập.
12 - Sau một thời gian như đa thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị gốm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc sửu dụng quyền sử dụng vốn của người khác. Do vậy, nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Phân loại tín dụng ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng tự do hoá, các NHTM không ngừng nghiên cứu và đưa ra các hình thức tín dụng khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất và tái sản xuất, từ đó đa dạng hoá các danh mục đầu tư, mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro.
Tùy vào cách tiếp cận có thể chia tín dụng ngân hàng thành nhiều loại khác nhau. Tiêu biểu có các cách phân loại sau : 2. Căn cứ vào thời hạn cho vay Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động và các nhu cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn.
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, tín dụng trung hạn thường được sử dụng để cho vay sửa chữa, cải tạo tài sản cố định, các nhu cầu mua sắm tài sản cố định. có thời gian thu hồi vốn nhanh hoặc các nhu cầu thiếu hụt vốn nhưng có thời hạn hoàn vốn trên một năm. Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, tín dụng dài hạn thường được sử dụng để cho vay các nhu cầu mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản. có thời gian thu hồi vốn lâu (thời gian hoàn vốn vay trên 5 năm).
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó NH chủ động lựa chọn KH để cho vay trên cơ sở KH có tín nhiệm với NH, có năng lực tài chính và có phương án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả nợ vay hoặc NHTM cho 13 vay theo chỉ định của Chính phủ hoặc cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội. Chất lượng tín dụng của NHTM 2.