CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị trường, DN là thành phần quan trọng của nền kinh tế, thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của các chủ thể với mục tiêu lợi nhuận. Tùy theo mỗi quốc gia quy định mà doanh nghiệp có định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại là DN phải có tên riêng, tài sản và hoạt động kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận. Theo Luật DN 2014, tại Điều 4, khoản 7, DN là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong phân loại DN, tiêu chí thường được sử dụng là quy mô của DN theo đó DN được chia thành DN lớn, DN vừa và DN nhỏ.
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm kinh doanh của DN mà các quy định để phân loại DN có sự khác biệt giữa các quốc gia. Phần lớn các quốc gia dựa trên các tiêu chí định lượng liên quan đến lao động, quy mô vốn, doanh thu (Nguyễn Văn Hưởng, Hoàng Xuân Nghĩa, 2019). Ví dụ như tại Liên minh Châu Âu, những DN có số lượng nhân viên dưới 250 người, doanh thu hàng năm ít hơn 50 triệu EURO được xem là SME. Trong khi đó, tại Mỹ, một SME có số lượng nhân viên tối đa lên đến 1.000 người với mức tối đa doanh thu lên đến 35,5 triệu USD.
Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn phát triển mà có những điều chỉnh về tiêu chí phân loại SME. Trong Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ năm 2017, các tiêu chí để phân loại DN gồm số lao động, vốn hoặc doanh thu và tùy thuộc vào ngành nghề hoạt động, được trình bày trong bảng 1.1: Tiêu chí xác định SME tại Việt Nam Nguồn: Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ (2017) Như vậy, SME có thể hiểu là tổ chức kinh tế thực hiện sản xuất kinh doanh, có tên riêng, tài sản riêng, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và thỏa các điều kiện về số lao động, quy mô vốn hoặc doanh thu theo quy định của pháp luật từng thời kỳ.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh những đặc điểm của DN, SME còn mang những đặc trưng riêng, tạo ra ưu điểm và nhược điểm của các SME trong quá trình hoạt động. Trong đó: * Ưu điểm của SME: 1 Về quy mô vốn, SME cần số vốn đầu tư ban đầu nhỏ hơn các doanh nghiệp lớn, do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình doanh nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn sẽ lớn hơn vì phần nhiều SME hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn những ngành khác và nhanh hơn những doanh nghiệp lớn.
Do thu hồi được vốn ban đầu bỏ ra trong thời gian tương đối ngắn nên khả năng quay vòng vốn, tái đầu tư lớn, mở rộng sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn. Hoạt động kinh doanh của các SME rất linh hoạt và năng động: Các chủ doanh nghiệp luôn vận động, tìm kiếm các lĩnh vực mà ở đó có sự cạnh tranh chưa cao song lại đem lại lợi nhuận nhanh chóng. SME có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng kinh doanh nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng và thậm chí việc chuyển địa điểm cũng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp lớn. Do đó, họ luôn tìm kiếm, phát hiện được những ngành, lĩnh vực, mặt hàng xã hội đang thiếu, đang cần đầu tư sản xuất; đồng thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao.
Chính quy mô nhỏ và vừa cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hoặc bộ máy quản lý khi có sự bất lợi từ môi trường kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của doanh nghiệp với những biến động bất lợi từ thị trường. SME có số nhân công ít hơn doanh nghiệp lớn, dây truyền sản xuất không quá cồng kềnh nên có thể tận dụng diện tích xây dựng nhà xưởng, cơ sở sản xuất, làm giảm giá thành sản phẩm, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có tính cạnh tranh cao hơn. Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh gọn nhẹ, các quyết định quản lý được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp dễ dàng. Do đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý.
* Hạn chế của SME 1 Một đặc điểm nổi bật của các SME là quy mô về vốn bị hạn chế khiến cho các SME gặp không ít khó khăn về nhiều mặt. Ngoài nguồn vốn huy động từ phía gia đình, bạn bè, việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức từ ngân hàng, thị trường tài chính để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng gặp nhiều trở ngại do SME thiếu tài sản có giá trị lớn để thế chấp. Do vậy, các SME thường rơi vào tình trạng thiếu vốn, nhiều cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ, các SME gặp khó khăn trong việc mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặt khác, vốn ít khiến cho các SME không có khả năng trả lương và thưởng cao để cạnh tranh với các doanh nghiệp vốn lớn nên việc thu hút và giữ chân người lao động giỏi là vấn đề khó khăn của SME.
Quy mô nhỏ lại luôn khó khăn về vốn nên hầu hết các SME không đủ kinh phí để đầu tư, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động. Các SME thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại với công nghệ cao phục vụ sản xuất. Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của SME. Trang thiết bị lạc hậu cộng thêm tay nghề thấp của công nhân là một thách thức rất lớn với các SME trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Năng lực quản lý, điều hành của những người đứng đầu trong doanh nghiệp cũng là 1 vấn đề đáng quan tâm. Do trong các SME, người sở hữu vốn đồng thời là người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về giá trị doanh nghiệp còn hạn chế, hiểu biết pháp luật trong kinh doanh cũng không được cặn kẽ. Luôn tiềm ẩn rủi ro trong kinh doanh do các SME còn hạn chế về năng lực quản lý, về vốn, hơn nữa thị trường của các SME chủ yếu là khu vực các doanh nghiệp lớn như làm đại lý bán hàng, nhà cung cấp nguyên vật liệu, kênh phân phối,… Những thi trường này chứa đựng nhiều rủi ro và không ổn định khiến cho hoạt động của các SME trở nên bấp bênh. Sự cạnh tranh cũng diễn ra rất gay gắt, thực tế thì đối thủ cạnh tranh lớn nhất của các SME không phải là những doanh nghiệp lớn mà chính là các doanh nghiệp có cùng quy mô.
Bởi vì, các doanh nghiệp lớn có thị trường ổn định, nhóm khách hàng mục tiêu thường được xác định trước, họ luôn tìm kiếm những thị trường có quy mô lớn, có chiều sâu còn những thị trường nhỏ thường bị bỏ qua. Trong khi đó, các SME có số lượng đông đảo và đều có mục đích giống nhau là tìm kiếm những thị trường còn bỏ trống, các thị 1 trường này quá nhỏ bé để chứa nhiều doanh nghiệp trong đó cho dù đó là những doanh nghiệp nhỏ nên họ gặp nhiều áp lực về sự thâu tóm, xoá sổ từ các doanh nghiệp lớn. Một khó khăn nữa là việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta còn ở giai đoạn thấp, trước ngưỡng cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, do trình độ còn hạn chế nên các SME còn bộc lộ rất nhiều yếu kém trong quá trình hoạt động.
Trốn lậu thuế, một số doanh nghiệp trốn đăng ký kinh doanh, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, khi xảy ra tranh chấp thì bên bị thiệt thường là các SME do năng lực pháp lý và hiểu biết về pháp luật của các SME còn hạn chế, không nắm bắt kịp thời những thay đổi của thị trường trong nước và thế giới.3 Nhu cầu vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong quá trình hoạt động, các SME vẫn gặp nhiều khó khăn và thử thách làm cản trở quá trình phát triển của doanh nghiệp. Vấn đề vốn đang được xem là bức xúc nhất. Hầu hết các SME đều có nhu cầu vay vốn để đầu tư phát triển, cải tiến trang thiết bị khoa học kỹ thuật nhưng đều vướng phải những hàng rào khó vượt qua về tài sản thế chấp nên khó tiếp cận các nguồn vốn vay. Vốn của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ, mỗi bộ phận được cấu thành từ nhiều khoản mục khác nhau tuỳ thuộc vào thành phần kinh tế.
Nguồn vốn của SME dựa phần nhiều vào vốn chủ sở hữu, trong đó, vốn góp ban đầu của SME thường thấp, lợi nhuận giữ lại không đáng kể do lợi nhuận không nhiều, khó khăn trong việc huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Việc huy động vốn thông qua gia tăng vốn cổ phần của SME gặp khó khăn chủ yếu do hạn chế của cán bộ quản lý trong các SME, phần đông chưa qua đào tạo, việc thiết lập dự án để chứng minh tính khả thi của cơ hội kinh doanh là một điều không dễ, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi mà thị trường tài chính chưa phát triển ổn định và hoàn thiện. Vốn vay của các SME phần lớn đến từ những nguồn không chính thức (như tự gia đình, bạn bè hoặc dựa vào vốn của nhau), thậm chí phải vay tín dụng đen với lãi suất cao hơn nhiều lần so với lãi suất chính thức (Nguyễn Cảnh Hiệp, 2019). Vì 1 vậy, việc tiếp cận vốn từ NHTM thực sự quan trọng đối với các SME nhưng thủ tục phức tạp, yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như nhiều yếu tố khác làm cho việc tiếp cận vốn tín dụng từ thị trường chính thức của các SME gặp nhiều hạn chế.
Tình trạng thiếu vốn sẽ kéo theo nhiều khó khăn cho doanh nghiệp như thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất dẫn tới năng suất lao động không cao, chất lượng thành phẩm kém, không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.