Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nguồn nước mặt giữ vai trò thiết yếu đối với sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và cân bằng sinh thái. Hệ thống sông Đồng Nai sở hữu diện tích lưu vực 37.885 km², chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh – khu vực trung tâm của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Cùng với tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh chóng, chất lượng nước sông Đồng Nai đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.

Một trong những chỉ tiêu ô nhiễm đáng quan tâm là tổng chất rắn lơ lửng (TSS). Sự gia tăng nồng độ TSS làm suy giảm độ trong của nước, cản trở sự truyền ánh sáng, ảnh hưởng tiêu cực đến chu kỳ sinh sản và khả năng bắt mồi của các loài thủy sinh, đồng thời làm tăng đáng kể chi phí xử lý nước cấp sinh hoạt. Theo số liệu quan trắc năm 2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, chất lượng nước đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa đến xã Long Tân (huyện Nhơn Trạch) bị suy giảm rõ rệt, đặc biệt có 19/19 điểm quan trắc ghi nhận nồng độ TSS vượt quá quy chuẩn cho phép.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Phạm Đình Gia Huy đã thực hiện tiểu luận tốt nghiệp ngành Hệ thống thông tin địa lý (Khoa Môi trường & Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn của KS. Nguyễn Duy Liêm với đề tài: "Mô phỏng sự lan truyền của thông số tổng chất rắn lơ lửng trên sông Đồng Nai, đoạn qua tỉnh Đồng Nai năm 2015".

Mục tiêu chung của nghiên cứu là ứng dụng công nghệ GIS nhằm mô phỏng và trực quan hóa sự lan truyền của thông số TSS trên sông Đồng Nai đoạn qua địa bàn tỉnh Đồng Nai trong năm 2015. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Nghiên cứu tính chất, yếu tố hình thành và đặc điểm di chuyển của thông số TSS trong môi trường nước mặt.
  2. Lựa chọn thuật toán nội suy không gian phù hợp (so sánh giữa phương pháp IDW và Kriging) để mô phỏng sự lan truyền nồng độ TSS trên sông Đồng Nai đoạn qua tỉnh Đồng Nai năm 2015.
  3. Thành lập chuỗi bản đồ lan truyền nồng độ TSS và phân vùng chất lượng nước phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau trên sông Đồng Nai trong năm 2015.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nồng độ và sự phân bố không gian của thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước sông.
  • Phạm vi không gian: Đoạn sông Đồng Nai chảy qua địa bàn tỉnh Đồng Nai (từ thượng lưu huyện Tân Phú, Định Quán, qua hồ Trị An, Vĩnh Cửu, TP. Biên Hòa, Long Thành đến Nhơn Trạch).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu quan trắc thực địa năm 2015 (gồm 7 đợt quan trắc: tháng 1, tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 8, tháng 9 và tháng 10). Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 01/02/2016 đến ngày 31/05/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết về thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

TSS (Turbidity Suspended Solids) là tổng khối lượng các hạt vật chất hữu cơ và vô cơ lơ lửng trong một thể tích nước xác định. Khi vận tốc dòng chảy suy giảm, phần lớn các hạt rắn có kích thước lớn sẽ lắng xuống đáy, các hạt mịn không lắng tạo nên độ đục của nước. Nguồn gốc hình thành TSS bao gồm:

  • Dòng chảy và chế độ thủy văn: Vận tốc và lưu lượng dòng chảy cao cuốn theo cát, bùn, đất sét và chất hữu cơ; dòng chảy xoáy làm xáo trộn các hạt vật chất từ đáy sông trở lại trạng thái lơ lửng.
  • Xói mòn đất: Phát sinh từ các hoạt động xáo trộn bề mặt đất như xây dựng công trình, khai khoáng, khai thác gỗ, cháy rừng.
  • Nguồn thải nhân tạo: Nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn từ các khu công nghiệp, sinh hoạt đô thị và chất thải chăn nuôi, nuôi cá bè.
  • Phân hủy sinh học: Quá trình phân rã của xác động thực vật thủy sinh.

Sự lan truyền của TSS phụ thuộc chặt chẽ vào vận tốc và lưu lượng dòng chảy: dòng chảy mạnh đẩy TSS di chuyển nhanh, trong khi nồng độ TSS cao làm tăng lực cản nội tại và làm chậm tốc độ di chuyển của dòng nước.

Quy chuẩn đánh giá chất lượng nước mặt

Nghiên cứu sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT để phân cấp 4 mức nồng độ TSS phục vụ phân vùng mục đích sử dụng nước:

  • Mức 1 (màu xanh lá đậm - TSS < 20 mg/L): Đạt giới hạn A1, chất lượng nước tốt, sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các mục đích khác.
  • Mức 2 (màu xanh lá nhạt - TSS từ 20 đến 30 mg/L): Đạt giới hạn A2, phù hợp cấp nước sinh hoạt nhưng bắt buộc áp dụng công nghệ xử lý phù hợp.
  • Mức 3 (màu cam - TSS từ 30 đến 50 mg/L): Đạt giới hạn B1, phù hợp cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp, thủy lợi và bảo tồn động thực vật thủy sinh.
  • Mức 4 (màu đỏ - TSS > 50 mg/L): Vượt giới hạn B1, nguồn nước suy thoái, chỉ phù hợp cho giao thông thủy và các mục đích sử dụng nước yêu cầu chất lượng thấp.

Phương pháp nội suy không gian và đánh giá sai số

Đề tài áp dụng kỹ thuật nội suy không gian trong GIS nhằm ước tính giá trị TSS tại các vị trí không đo đạc dựa trên tập điểm quan trắc thực tế, thay thế cho các mô hình thủy lực toán học phức tạp (như MIKE 11, Delft3D, SWAT) vốn đòi hỏi nhiều dữ liệu đầu vào và thời gian xử lý:

  • Phương pháp IDW (Inverse Distance Weighting): Xác định giá trị điểm chưa biết bằng cách tính trung bình trọng số nghịch đảo khoảng cách của các điểm lân cận. Các điểm càng xa vị trí tính toán càng có trọng số ảnh hưởng nhỏ. Nghiên cứu thiết lập kích thước pixel 20 m và hệ số lũy thừa khoảng cách $k = 2$.
  • Phương pháp Kriging: Phương pháp địa thống kê dựa trên hàm tương quan không gian (semivariogram). Nghiên cứu sử dụng mô hình hàm Gaussian với kích thước pixel 20 m.

Để đánh giá độ tin cậy và chọn lựa phương pháp nội suy tối ưu, đề tài áp dụng hai công thức định lượng sai số: $$\text{Sai số trung bình (Mean Error)} = |\text{Giá trị TSS nội suy} - \text{Giá trị TSS thực đo}|$$ $$\text{Sai số trung phương (RMSE)} = \sqrt{\frac{1}{n} \sum_{i=1}^{n} (\text{Sai số trung bình}_i)^2}$$ (trong đó $n$ là số điểm quan trắc đánh giá).

Nguồn dữ liệu sử dụng

Dữ liệu nghiên cứu được chuẩn hóa thống nhất trên hệ quy chiếu WGS 84 UTM Zone 48N:

STT Tên lớp dữ liệu Định dạng & Thuộc tính Nguồn cung cấp
1 Số liệu quan trắc TSS 2015 Dữ liệu bảng (Excel), gồm 7 đợt quan trắc (tháng 1, 3, 4, 5, 8, 9, 10/2015) Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai
2 Tọa độ điểm quan trắc Dữ liệu điểm (Point), gồm 19 trạm quan trắc (mã hiệu SW-DN-01 đến SW-DN-19) Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai
3 Lớp dữ liệu khu công nghiệp Dữ liệu điểm (Point), tọa độ và thông tin của 25 khu công nghiệp đang hoạt động Atlas tỉnh Đồng Nai / Sở TN&MT
4 Ranh giới hành chính Dữ liệu vùng (Polygon), ranh giới cấp tỉnh và 11 đơn vị hành chính cấp huyện Atlas tỉnh Đồng Nai
5 Hệ thống sông ngòi, hồ Dữ liệu vùng (Polygon) và đường (Line), mạng lưới sông Đồng Nai và hồ Trị An Atlas tỉnh Đồng Nai

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Tổng quan tài liệu (Chương 1)

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng nguồn nước thải trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

  • Vị trí địa lý và hành chính: Đồng Nai nằm ở cực Bắc miền Đông Nam Bộ (diện tích 5.862,37 km², chiếm 1,76% diện tích cả nước), gồm 11 đơn vị hành chính: TP. Biên Hòa, TX. Long Khánh và 9 huyện (Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc).
  • Địa hình và khí hậu: Địa hình đồng bằng và bình nguyên lượn sóng thấp dần theo hướng Bắc - Nam, 92% diện tích có độ dốc dưới 15°. Khí hậu chia thành mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa 210–370 mm, chiếm 12–14% năm) và mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa từ 1.400 mm, chiếm 86–88% năm).
  • Thủy văn và thổ nhưỡng: Mật độ sông suối đạt 0,5 km/km² với tổng lượng nước 16,82 tỷ m³/năm (mùa mưa chiếm 80%). Hồ Trị An có diện tích 14.776 km², đóng vai trò hồ điều tiết trung tâm. Ba nhóm đất chính gồm đất hình thành trên đá bazan (39,1%), đất trên phù sa cổ và đá phiến sét (41,9%), và đất phù sa mới ven sông.
  • Nguồn thải gây ô nhiễm TSS:
    • Khu công nghiệp: 31 KCN được thành lập, trong đó 25 KCN đang vận hành phát sinh khoảng 83.136 m³/ngày đêm nước thải. Hiện có 21 KCN vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung ổn định, 17 KCN đã lắp đặt trạm quan trắc tự động truyền dữ liệu về Sở TN&MT.
    • Nước thải sinh hoạt: Dân số trên 2,8 triệu người thải ra môi trường xấp xỉ 280.000 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt.
    • Nông nghiệp và chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi tại Trảng Dài, Long Bình Tân và nuôi cá bè trên sông làm gia tăng tải lượng chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng.

Phương pháp nghiên cứu (Chương 2)

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình công nghệ 4 bước:

  1. Thu thập số liệu: Tiếp nhận số liệu quan trắc nồng độ TSS năm 2015 từ Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai.
  2. Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS: Chuyển đổi tọa độ trạm quan trắc và 25 KCN sang định dạng không gian; xây dựng bản đồ nền địa hình, thủy hệ, ranh giới hành chính.
  3. Mô phỏng và kiểm định thuật toán: Chạy nội suy không gian nồng độ TSS theo IDW và Kriging cho từng đợt quan trắc; tính toán sai số trung bình và sai số trung phương để lựa chọn phương pháp tối ưu.
  4. Biên tập bản đồ: Phân lớp màu theo 4 mức tiêu chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT và xuất chuỗi bản đồ lan truyền TSS theo từng tháng trong năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận (Chương 3)

Chương 3 tập trung phân tích kết quả xây dựng CSDL không gian và mô phỏng sự biến thiên nồng độ TSS:

1. Cơ sở dữ liệu vị trí quan trắc và khu công nghiệp

Nghiên cứu định vị chính xác 19 điểm quan trắc chất lượng nước dọc tuyến sông Đồng Nai. Kết quả phân bố cho thấy các trạm phân tán thưa ở khu vực thượng lưu (huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu) và hạ lưu xa (Long Thành, Nhơn Trạch). Riêng khu vực đô thị TP. Biên Hòa có mật độ dày đặc nhất với 9 điểm quan trắc (từ SW-DN-07 đến SW-DN-15) do đây là vùng tiếp nhận nguồn nước thải lớn từ đô thị và các dòng hợp lưu (sông Cái, suối Săn Máu, suối Linh). Về công nghiệp, 25 KCN phân bố tập trung cao nhất tại Long Thành (7 KCN) và TP. Biên Hòa (6 KCN).

2. Kết quả so sánh sai số giữa thuật toán IDW và Kriging

Kiểm định độ chính xác trên tập số liệu thực tế qua 7 đợt quan trắc cho thấy phương pháp IDW vượt trội hoàn toàn so với Kriging về độ khớp dữ liệu:

Đợt quan trắc Sai số IDW: TB Sai số IDW: TP (RMSE) Sai số Kriging: TB Sai số Kriging: TP (RMSE)
Tháng 1/2015 0,00100 0,00300 0,06 0,10
Tháng 3/2015 0,00040 0,00080 3,02 4,30
Tháng 4/2015 0,00030 0,00060 0,02 0,03
Tháng 5/2015 0,00007 0,00010 0,01 0,02
Tháng 8/2015 0,00100 0,00200 8,30 11,20
Tháng 9/2015 0,00030 0,00050 1,40 1,50
Tháng 10/2015 0,00090 0,00500 5,40 7,30
Giá trị trung bình 0,00050 0,00100 2,60 2,40

Sai số trung bình của IDW đạt $0,0005$ và sai số trung phương là $0,001$, thấp hơn rất nhiều so với phương pháp Kriging (sai số trung bình $2,6$ và sai số trung phương $2,4$). Do đó, phương pháp IDW ($k=2$, cell size $20\text{ m}$) được chọn làm công cụ chính thức để mô phỏng và thành lập bản đồ lan truyền TSS.

3. Diễn biến không gian - thời gian của nồng độ TSS theo phương pháp IDW

Kết quả mô phỏng thể hiện rõ sự phân hóa chất lượng nước theo 3 phân đoạn và 2 mùa rõ rệt:

  • Khu vực thượng lưu hồ Trị An:
    • Mùa khô (tháng 1, tháng 3): Nồng độ TSS duy trì ở Mức 1 (< 20 mg/L), chất lượng nước tốt, thích hợp cho cấp nước sinh hoạt do lượng xả thải công nghiệp thấp và ít xói mòn bề mặt.
    • Thời điểm giao mùa (tháng 4, tháng 5): TSS tăng lên Mức 2 (20–30 mg/L), nước ít ô nhiễm nhưng cần xử lý trước khi cấp sinh hoạt.
    • Mùa mưa (tháng 8, tháng 9, tháng 10): Nồng độ TSS tăng vọt lên Mức 4 (> 50 mg/L), nước chuyển sang màu đục do lượng mưa lớn cuốn trôi bùn đất từ lưu vực, chỉ phù hợp cho giao thông thủy.
  • Khu vực lòng hồ Trị An:
    • Hồ Trị An đóng vai trò như một bể lắng tự nhiên khổng lồ.
    • Vào các tháng mùa khô (tháng 1, 3, 5), toàn bộ lòng hồ ở Mức 1.
    • Vào các tháng mùa mưa lũ (tháng 8, 9, 10), phần đầu hồ tiếp nhận dòng chảy từ thượng nguồn có nồng độ TSS cao ở Mức 3 và Mức 4; tuy nhiên khi chảy về phía thân và cuối hồ gần đập thủy điện, vận tốc nước giảm làm chất rắn lơ lửng lắng tụ, đưa nồng độ TSS giảm tuần tự xuống Mức 2 và Mức 1.
  • Khu vực hạ lưu hồ Trị An (từ TP. Biên Hòa đến Nhơn Trạch):
    • Đây là đoạn sông chịu áp lực ô nhiễm nặng nề nhất do tiếp nhận nước thải của 11 KCN ven sông và dòng thải sinh hoạt đô thị.
    • Vào các tháng 1, 3, 4 và 10, nồng độ TSS ở Mức 3 và Mức 4 chiếm phần lớn diện tích mặt nước, chất lượng nước suy giảm, không thể dùng cho sinh hoạt, chỉ đáp ứng tưới tiêu thủy lợi hoặc giao thông thủy.
    • Riêng tháng 5 ghi nhận chất lượng nước cải thiện tạm thời (Mức 1 chiếm ưu thế), trước khi chuyển sang Mức 2 và Mức 4 về phía cuối hạ lưu trong tháng 8 và tháng 9.

Kết luận và kiến nghị (Chương 4)

Khóa luận tổng kết việc hoàn thành toàn bộ các mục tiêu đặt ra: chứng minh tính ưu việt của thuật toán IDW trong việc mô phỏng lan truyền chất ô nhiễm dạng hạt lơ lửng trên mạng lưới sông ngòi; thành lập bộ bản đồ chuyên đề hỗ trợ trực quan công tác quản lý chất lượng môi trường nước. Tác giả kiến nghị các cơ quan chức năng tăng cường giám sát các cửa xả KCN, kiểm soát hoạt động chăn nuôi, nuôi cá bè ven sông và đẩy mạnh đầu tư hệ thống quan trắc tự động liên tục.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng và đóng góp thực tiễn cụ thể:

  • Xác định tính thích hợp của thuật toán nội suy: Thực nghiệm chứng minh phương pháp IDW ($k=2$) đạt độ chính xác cao hơn phương pháp Kriging (Gaussian) khi mô phỏng thông số TSS dọc sông Đồng Nai, với sai số trung phương tổng thể đạt $0,001$ so với $2,4$ của Kriging.
  • Xây dựng bộ bản đồ chuyên đề phân vùng chất lượng nước: Thiết lập hệ thống bản đồ phân bố nồng độ TSS qua 7 đợt trong năm 2015 theo tiêu chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT, làm rõ cơ chế lắng đọng của hồ Trị An và xác định các điểm nóng ô nhiễm TSS tại vùng hạ lưu công nghiệp TP. Biên Hòa và huyện Long Thành.
  • Đóng góp giải pháp quản lý: Cung cấp tài liệu khoa học trực quan giúp Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai dễ dàng theo dõi biến động chất lượng nước theo mùa mà không cần phụ thuộc vào các phần mềm mô hình hóa dòng chảy đắt tiền và phức tạp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi dữ liệu thu thập:

  • Dữ liệu đầu vào gián đoạn: Số liệu quan trắc năm 2015 mới chỉ có 7 đợt đo rời rạc (thiếu các tháng 2, 6, 7, 11, 12), chưa phản ánh liên tục diễn biến thủy lực theo từng tuần hoặc từng ngày trong năm.
  • Mật độ điểm quan trắc chưa đồng đều: Trạm quan trắc tập trung dày ở khu vực TP. Biên Hòa (9/19 trạm) nhưng còn khá thưa ở các đoạn sông qua Tân Phú, Định Quán và Nhơn Trạch, ảnh hưởng đến độ mịn của phép nội suy tại các vùng biên.
  • Chưa tích hợp yếu tố thủy động lực học: Phương pháp nội suy không gian thuần túy trong GIS chỉ dựa trên khoảng cách hình học, chưa mô phỏng được tác động của vận tốc dòng chảy thực tế, dòng chảy triều từ hạ lưu TP. Hồ Chí Minh đẩy ngược lên, cũng như chế độ xả nước tức thời của đập thủy điện Trị An.

Hướng mở rộng nghiên cứu:

  • Tích hợp số liệu từ các trạm quan trắc tự động liên tục truyền về thời gian thực để cập nhật bản đồ lan truyền trực tuyến.
  • Kết hợp công nghệ GIS với các mô hình thủy động lực học chuyên sâu (như Delft3D hoặc MIKE 21/MIKE 11) nhằm mô phỏng chính xác quá trình lan truyền chất theo cơ chế bình lưu - khuếch tán dưới tác động của thủy triều và lưu lượng xả đập.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành GIS, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Cung cấp hướng dẫn thực hành xây dựng cơ sở dữ liệu GIS từ bảng tọa độ Excel, kỹ thuật xử lý dữ liệu raster, thiết lập tham số nội suy (IDW, Kriging) và phương pháp toán học đánh giá sai số nội suy (Mean Error, RMSE).
  • Cán bộ quản lý môi trường tại các địa phương: Cung cấp phương pháp trực quan hóa nhanh hiện trạng ô nhiễm nguồn nước mặt từ số liệu quan trắc định kỳ, phục vụ công tác quy hoạch điểm lấy nước sinh hoạt và thanh tra xả thải công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài lựa chọn phương pháp nội suy không gian nào và dựa trên căn cứ nào?

Nghiên cứu lựa chọn phương pháp IDW (Inverse Distance Weighting) với kích thước pixel 20 m và hệ số ảnh hưởng $k = 2$. Căn cứ lựa chọn dựa trên kết quả tính toán sai số thực nghiệm qua 7 đợt quan trắc: phương pháp IDW đạt sai số trung bình $0,0005$ và sai số trung phương $0,001$, vượt trội về độ chính xác so với phương pháp Kriging (sai số trung bình $2,6$ và sai số trung phương $2,4$).

2. Tiêu chuẩn nào được sử dụng để phân loại nồng độ TSS và các ngưỡng giá trị cụ thể là gì?

Đề tài căn cứ theo QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt), chia nồng độ TSS thành 4 mức:

  • Mức 1 ($< 20\text{ mg/L}$ - Xanh lá đậm): Đạt chuẩn A1, cấp nước sinh hoạt tốt.
  • Mức 2 ($20 - 30\text{ mg/L}$ - Xanh lá nhạt): Đạt chuẩn A2, cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý phù hợp.
  • Mức 3 ($30 - 50\text{ mg/L}$ - Cam): Đạt chuẩn B1, tưới tiêu thủy lợi và bảo tồn thủy sinh.
  • Mức 4 ($> 50\text{ mg/L}$ - Đỏ): Vượt chuẩn B1, chỉ phù hợp cho giao thông thủy.

3. Nguồn thải gây ô nhiễm TSS chính trên lưu vực sông Đồng Nai gồm những nguồn nào?

Nguồn thải gồm 3 nhóm chính:

  • Nước thải từ 25 khu công nghiệp đang hoạt động với tổng lượng phát sinh khoảng 83.136 m³/ngày đêm (trong đó 11 KCN tập trung sát lưu vực hạ lưu).
  • Nước thải sinh hoạt đô thị từ hơn 2,8 triệu dân trên địa bàn tỉnh, ước tính khoảng 280.000 m³/ngày đêm đổ vào hệ thống sông.
  • Nguồn thải nông nghiệp từ chăn nuôi gia súc, nuôi cá bè ven sông và xói mòn đất mặt vào mùa mưa lũ.

4. Vai trò của hồ Trị An đối với nồng độ TSS trên sông Đồng Nai được thể hiện như thế nào qua kết quả mô phỏng?

Hồ Trị An đóng vai trò là một vùng lắng đọng tự nhiên. Vào mùa mưa lũ (tháng 8, 9, 10), nguồn nước chảy từ thượng nguồn vào đầu hồ có nồng độ TSS rất cao (Mức 3 và Mức 4). Tuy nhiên, khi nước chảy chậm lại trong lòng hồ rộng lớn, các hạt chất rắn lơ lửng lắng đọng dần, làm nồng độ TSS ở khu vực giữa hồ giảm xuống Mức 2 và ở khu vực cuối hồ (gần đập) giảm về Mức 1, khôi phục chất lượng nước tốt trước khi chảy về hạ lưu.

5. Dữ liệu quan trắc đầu vào của đề tài có quy mô như thế nào?

Dữ liệu do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cung cấp, bao gồm số liệu đo đạc tại 19 điểm quan trắc cố định (mã hiệu SW-DN-01 đến SW-DN-19) trong 7 đợt của năm 2015 (tháng 1, 3, 4, 5, 8, 9, 10). Tọa độ các điểm và ranh giới được đồng bộ theo hệ quy chiếu WGS 84 UTM-48N.

Kết luận

Tiểu luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Đình Gia Huy đã ứng dụng thành công công nghệ GIS và thuật toán nội suy không gian IDW để mô phỏng sự lan truyền của tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trên sông Đồng Nai đoạn qua tỉnh Đồng Nai trong năm 2015. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự tương phản rõ rệt về chất lượng nước giữa mùa khô và mùa mưa, đồng thời làm rõ chức năng lắng đọng TSS của hồ Trị An và cảnh báo tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại vùng hạ lưu tập trung nhiều khu công nghiệp. Đây là công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng thực tiễn cao, cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp bản đồ số phục vụ công tác giám sát, quản lý bền vững tài nguyên nước mặt tại địa phương.