MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình (DS-KHHGĐ), cuối năm 2011 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, nhóm dân số cao tuổi tăng nhanh chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm 1/10 dân số cả nước. Tuổi thọ của người cao tuổi (NCT) tăng nhanh phản ánh những thành tựu to lớn của công tác chăm sóc, phụng dưỡng NCT và công tác dân số được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo thực hiện từ các giai đoạn trước. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đưa đến những khó khăn, thách thức cho công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò NCT [12; tr.8]; bởi hiện nay đời sống NCT nói chung, cùng điều kiện thu nhập - mức sống, điều kiện sống của đa phần NCT nước ta còn khá thấp, cùng với nhiều vấn đề liên quan như: sức khỏe yếu, bệnh tật nhiều, điều kiện chăm sóc chưa đảm bảo.
tác động rất lớn đến đời sống NCT nước ta. Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, ở nước ta hiện nay 70% NCT đang sống ở nông thôn và hiện tại vẫn đang tham gia lao động, điều này cho thấy sau tuổi 60 NCT vẫn có nhu cầu tham gia làm việc nhằm tạo thu nhập, nâng cao mức sống. Chính vì vậy, cùng với các chương trình can thiệp, hoạt động chăm sóc được triển khai, thì hoạt động tạo việc làm nhằm phát huy vai trò NCT, giúp NCT tiếp tục cống hiến những kinh nghiệm, năng lực cho các lĩnh vực trong đời sống; đang được Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội rất quan tâm. Cũng theo số liệu thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ, tuổi thọ khỏe mạnh của NCT Việt Nam là 66, xếp thứ 116/172 nước trên thế giới, trong khi tuổi thọ trung bình hiện tại là 74 đứng thứ 58/177 nước; mỗi NCT ở Việt Nam phải chịu 15,3 năm bệnh tật, có 95,0% NCT mắc bệnh mãn tính và số bệnh trung bình mỗi NCT mắc phải là 2,69 bệnh, đa phần NCT đều có sức khỏe yếu và các bệnh mãn tính mắc phải phổ biến như: bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, xương khớp, tim mạch, thị giác.
Qua điều tra và nghiên cứu còn cho thấy tỉ lệ NCT ở nước ta tuy chỉ chiếm hơn 1/10 dân số cả nước, nhưng lại chiếm tới 70% tổng chi phí y tế Quốc gia [37], đây là một thách thức không hề nhỏ cho hệ thống chăm sóc, trợ giúp NCT. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hiện nay, với xu thế già hóa diễn ra nhanh ở nước ta, có rất nhiều mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT được xây dựng, nhưng để đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của số đông NCT thì rất ít mô hình đáp ứng được, trong số đó phải kể tới mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, đây là mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT dựa vào cộng đồng đầu tiên ở nước ta, được thành lập năm 2004; với sự trợ giúp của Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (HAI), Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Mô hình liên thế hệ là một mô hình kết hợp các hoạt động chăm sóc - trợ giúp nhiều mặt, CSSK; tạo việc làm cho NCT, thông qua các CLB và hoạt động sinh kế; giải trí - TDTT; truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách với sự tham gia trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, đến nay mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã được triển khai ở 25 tỉnh, thành phố. Việc chăm sóc - trợ giúp NCT cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, để nâng cao chất lượng chăm sóc và hoạt động trợ giúp NCT, đồng thời phát huy được vai trò của NCT trong cộng đồng như mục tiêu của Luật Người cao tuổi (2009), Chương trình Hành động Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020 đề ra, Bộ LĐ-TB&XH đã đề xuất Đề án Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi giai đoạn 2012-2020 trong đó chú trọng vào việc xây dựng và nhân rộng “Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau” [11; tr.69], đây là một hướng đi đúng đắn, mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện và tình hình già hóa dân số ở nước ta.
Thanh Hóa là địa phương đầu tiên nhân rộng mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau; đến nay, toàn tỉnh có 21 huyện, thị xã, thành phố có mô hình, thành lập được 97 CLB liên thế hệ tự giúp nhau của NCT với tổng số thành viên tham gia là 5. Mô hình đã hỗ trợ tạo việc làm cho NCT thông qua các hoạt động sinh kế như: nuôi bò, nuôi lợn nái, nuôi gà, nuôi chim bồ câu, thủ công mỹ nghệ. NCT khi tham gia mô hình này đều có việc làm và thu nhập ổn định, được tập huấn kiến thức khoa học - kỹ thuật tiên tiến về chăn nuôi, trồng trọt, giới thiệu các ngành nghề phù hợp với sức khỏe NCT, các thành viên CLB liên thế hệ tự giúp nhau còn được hỗ trợ về vốn vay để phát triển sản xuất, được các tình nguyện 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên chăm sóc sức khỏe thường xuyên, giao lưu giải trí văn hóa - văn nghệ; tổ chức các buổi truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về chính sách [29; tr. Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng như: NCT cô đơn không nơi nương tựa, NCT có bệnh hiểm nghèo, NCT khuyết tật, NCT nghèo - cận nghèo, NCT có công với cách mạng.
nhằm bảo đảm những quyền, lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT. Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số đông NCT và mong mỏi, nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn nghiên cứu thuộc 2 xã Hoằng Lưu và xã Hoằng Trạch. Từ việc nghiên cứu "Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội", sẽ cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT; cũng từ việc nghiên cứu mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, thấy được bức tranh toàn cảnh về một mô hình thực tiễn dựa vào cộng đồng, phát huy vai trò và nguồn lực từ phía cộng đồng trong chăm sóc, trợ giúp NCT. Nghiên cứu này chỉ ra thực trạng những hoạt động của mô hình liên thế hệ tự giúp nhau và tác động của mô hình này đến đời sống của NCT, qua các hoạt động trợ giúp như: Chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh kế tạo việc làm, giải trí - TDTT và truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách.
Trên cơ sở những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế trong mô hình và vai trò bán chuyên nghiệp đội ngũ nhân viên xã hội trong mô hình, nghiên cứu đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong mô hình với vai trò của nhân viên CTXH trong mô hình, nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại, hạn chế và đưa mô hình hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị mang tính thực tiễn, góp phần tăng cường vai trò của mô hình, vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động chăm sóc - trợ giúp NCT tại địa phương. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đến nay, nghiên cứu mô hình và hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT là đề tài nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và Việt Nam.
Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu. hầu hết các công trình nghiên cứu đó đều nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng, những ảnh hưởng và tác động của các loại mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đến đời sống của NCT; những hiệu quả của nó mang lại cho xã hội, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh như hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, khi vấn đề già hóa được đề cập từ cuối năm 2011 sau kết quả thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ được công bố, tỷ lệ NCT chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm hơn 1/10 tổng dân số cả nước. Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và mô hình trợ giúp người cao tuổi trên thế giới Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, xã hội của sự già hóa dân cư” [27], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX.
; hay nghiên cứu về “Sự phát triển chính sách địa phương đối phó với sự già hóa dân cư” [14] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số. Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who Prerceives Them” [54] (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận thức về chúng” của Anntte L. Ives và John A. Nghiên cứu này 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm 5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận Sacramento, quận Washington và quận Alleghny.