MỞ ĐẦU Trong những thập niên gần đây, sự suy giảm tài nguyên rừng cùng với những hệ quả sinh thái nghiêm trọng của nó đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Người ta hiểu được rằng mất rừng chính là nguyên nhân quan trọng nhất của sự giảm sút đa dạng sinh học, gia tăng hiệu ứng nhà kính, thoái hóa đất đai và biến đổi khí hậu – những hiện tượng đang đe dọa sự tồn tại lâu dài của sự sống trên toàn hành tinh. Rừng là một trong những tài nguyên thiên nhiên mang lại nhiều lợi ích cho con người như cung cấp nguyên nhiên liệu cho công nghiệp, là nguồn lương thực, thực phẩm phong phú. Hơn thế nữa rừng còn có chức năng phòng hộ, lưu trữ các nguồn gen động thực vật quí hiếm, nơi có thể đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người thông qua các hoạt động du lịch, thể hiện những tín ngưỡng, phong tục tập quán mang đậm bản sắc riêng của từng dân tộc.
Đặc biệt rừng được mệnh danh là lá phổi xanh của trái đất. Sự mất rừng cũng đã trở thành vấn đề quan trọng ở Việt Nam. Nó không chỉ thể hiện ở sự thu hẹp về diện tích, mà còn thể hiện ở sự suy giảm về trử lượng và cạn kiệt các giống loài có giá trị. Mất rừng đã trở thành nguyên nhân chủ yếu của sự thoái hóa đất đai, cạn kiệt nguồn nước và mức độ trầm trọng của các thiên tai.
Nó đe dọa sự tồn tại lâu dài của của các vùng trên đất nước, đặc biệt nghiêm trọng là các vùng đầu nguồn, các vùng cửa sông, ven biển, các vùng cát nội đồng – nơi mà người dân sinh sống phụ thuộc chủ yếu vào rừng và các hệ thống canh tác trên đất dốc. Rừng phòng hộ ở tỉnh Quảng Trị nằm trên các vùng sinh thái chủ đạo như vùng đồi núi, vùng trung du và vùng cát ven biển. Ở đây có khu hệ thực vật phong phú, có thành phần nguồn gen đa dạng và có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước cho các dòng sông chính cung cấp nước thủy lợi, thủy điện (thủy điện Rào Quán có công suất thiết kế 64 KW), và nước sinh hoạt cho người dân trong địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, cũng như các vùng sinh thái khác trên cả nước, rừng phòng hộ ở tỉnh Quảng Trị đang đối mặt với những tệ nạn săn bắt, khai thác động thực vật trái phép và thậm chí là xâm lấn diện tích đất rừng.
Ngăn chặn những tác động tiêu cực, phát huy tiềm năng và phát triển diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh là những trăn trở của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền và người dân địa phương. Nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ sở lý luận và tìm ra giải pháp quản lý rừng bền vững trên địa bàn cụ thể: tạo môi trường sinh thái bảo vệ đất, nguồn nước, tạo công ăn việc làm cho người dân trong các vùng sinh thái. Hiên nay, vẫn còn thiếu những nghiên cứu về địa hình, đất đai gây trồng, kỹ thuật chọn giống và trồng rừng phòng hộ ở khu vực miền Trung, Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. Nhận thấy sự cần thiết đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng làm cơ sở đề xuất mô hình trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi tỉnh Quảng Trị” PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý luận chung 2. Vai trò của rừng phòng hộ Rừng phòng hộ là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. Phân loại rừng phòng hộ Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường và phân chia thành 4 loại gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển; và rừng phòng hộ bảo vệ môi trường. Về khái niệm chi tiết cho từng loại rừng phòng hộ cũng đã được đưa ra lần đầu tiên trong Quy chế quản lý, sử dụng rừng phòng hộ ban hành theo Quyết định số 1171- QĐ ngày 30/12/1986 của Bộ Lâm nghiệp cũ (nay là Bộ NN&PTNT), tiếp đến là Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/1/2006/QĐ - TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng.
Theo các văn bản này, khái niệm về rừng phòng hộ được hiểu như sau: 2. Rừng phòng hộ được phân thành bốn loại là: Rừng phòng hộ đầu nguồn: Nhằm điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ. Chủ yếu là những nơi đồi núi có độ dốc cao, yêu cầu đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng, có độ che phủ của tán rừng là 0,6 trở lên. Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay: Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay được xác lập nhằm chống gió hại, chắn cát di động, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, khu đô thị, vùng sản xuất và các công trình khác.
Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay được xác lập dựa trên các tiêu chí và các chỉ số về: diện tích, bậc thềm cát ven biển, khí hậu và hiện trạng đặc điểm kinh tế, xã hội của khu vực. Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển: Được thành lập với mục đích chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển, ven sông. Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về: diện tích, vị trí, thủy văn, tình trạng xói lở và các công trình bảo vệ đã có. Đai rừng phòng hộ nằm bên ngoài đê biển có chức năng chắn sóng, cố định bãi bồi, chống sạt lở, bảo vệ đê biển, duy trì diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Đai rừng này là một hạng mục của hệ thống đê biển, được thiết kế và đầu tư trong công trình xây dựng đê biển. Đai rừng phòng hộ nằm bên trong đê biển có tác dụng phòng hộ cho nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, phát triển du lịch, bảo vệ môi trường và hạn chế tác hại của gió bão, sóng biển đối với tính mạng và tài sản của nhân dân vùng ven biển. Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường: Nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch và khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi; bảo vệ an ninh quốc gia, biên giới. Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường đươc xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về diện tích, về các yếu tố môi trường được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về diện tích, về các yếu tố môi trường, ô nhiễm, độc hại do hoạt động kinh tế, xã hội trong khu vực tạo nên hoặc yêu cầu về an ninh, quốc phòng.
Phân cấp rừng phòng hộ theo mức xung yếu Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước; những nơi cát di động mạnh; những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóng biển thường xuyên đe dọa sản xuất và đời sống nhân dân, có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ, phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%. Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình; những nơi mức độ đe dọa của cát di động và của sóng biển thấp hơn, có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối thiểu 50%. Chức năng chính của các loại rừng phòng hộ Rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp lòng sông, lòng hồ. Rừng phòng hộ chắn gió hại, chống cát bay có tác dụng phòng hộ nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, các khu đô thị, các vùng sản xuất, các công trình khác.
Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có tác dụng ngăn cản sóng, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển, tăng độ bồi tụ phù sa, mở rộng diện tích bãi bồi ra biển, hạn chế xâm nhập mặn vào nội đồng, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Rừng phòng hộ môi trường sinh thái, cảnh quan có tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế ô nhiễm không khí ở khu đông dân cư, các đô thị và các khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi,… 2. Trên thế giới 2. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ Biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ là chủ đề rất được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm.
Các lĩnh vực chủ yếu được các tác giả thực hiện như lựa chọn loài cây trồng rừng phòng hộ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng phòng hộ, xây dựng kết cấu đai rừng phòng hộ,. có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau đây. Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã công bố đều cho thấy, rừng hỗn loài do có kết cấu nhiều tầng tán nên đã phát huy tác dụng bảo vệ và phòng hộ tốt hơn kiểu rừng thuần loài. Vì vậy, nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng nhằm tăng cường hiệu quả phòng hộ của rừng đã được một số nước trên thế giới quan tâm.
Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài tác giả Bernar Dupuy (1995) [33], thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm phần.