Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC, QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi BHTG đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Từ năm 1829 hoạt động BHTG công khai được thực hiện tại Mỹ nhằm phòng ngừa sự đổ vỡ mang tính chất định kì của ngân hàng vào thế kỉ XIX.
Tuy nhiên, đến năm 1933 khi tình hình tài chính ở Mỹ bị rối loạn, nền kinh tế bị lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, hàng loạt các ngân hàng bị phá sản, cơ quan BHTG công khai của Nhà nước ở Mỹ lần đầu tiên mới ra đời (FDIC), nhằm củng cố lòng tin của nhân dân vào hệ thống ngân hàng, bảo vệ người gửi tiền. Từ đó cho đến nay các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt cho ra đời các tổ chức BHTG nhằm bảo vệ người gửi tiền trước nguy cơ phá sản của các tổ chức tài chính, đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng và hạn chế các cuộc khủng hoảng tài chính. Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân hàng trên thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu cầu về bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là nhu cầu đặt ra với bất kể Chính phủ nào. Niềm tin của người gửi tiền là quan trọng đối với sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính trong thế giới hiện đại.
Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động tài chính - ngân hàng, hệ thống BHTG công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. BHTG được xác định không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn được khẳng định như một tiêu chí, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD. Tính đến 10/2014, theo khảo sát thường niên của Hiệp hội BHTG Quốc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế (IADI), trên thế giới hiện có 113 tổ chức BHTG đang hoạt động và có 40 tổ chức BHTG đang trong quá trình nghiên cứu thành lập [4, tr.1: Tên gọi, thời gian thành lập BHTG ở một số nước trên thế giới Thời gian STT Tên tổ chức BHTG thành lập 1. Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC) 1933 2.
Tổng công ty BHTG Canada (CDIC) 1967 3. Tổng công ty BHTG Nhật Bản (DICJ) 1971 4. Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) 1996 5. Tổng công ty BHTG Philippines (PDIC) 1963 6.
Tổng công ty BHTG Malaysia (MDIC) 2005 7. Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC Taiwan) 1985 8. Tổng công ty BHTG Canada (CDIC) 1967 (Nguồn: Tổng hợp từ DIV: http://div. Vậy BHTG là gì? Theo Luật BHTG Canada 2011, BHTG: “là bảo hiểm cho những tổn thất một phần hoặc toàn bộ tiền gửi” [6, Khoản 2]; Theo Luật BHTG Việt Nam 2012, BHTG: “là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản [31, Điều 4, Khoản 1].
Theo đó, BHTG là: “cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền” [47]. BHTG cũng là một loại hình bảo hiểm, theo đó bảo đảm nghĩa vụ chi trả trong tương lai các khoản tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, và bị phá sản. Tổ chức BHTG: “là tổ chức tài chính nhà nước do Thủ tướng Chính 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ”; “là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí” [10, Điều 3, Khoản 1, 2]. Tổ chức tham gia BHTG: “là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân” [10, Điều 4, Khoản 1].
Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện. Điều này tùy thuộc vào chính sách tài chính – ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc. Khi tham gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Người được BHTG “là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi” [31, Điều 4, Khoản 2]. Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền gốc và tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia. BHTG có thể được thực hiện trong phạm vi hạn chế (các khoản tiền gửi được bảo hiểm đến một giới hạn nhất định) hoặc được bảo hiểm toàn bộ (mọi người gửi tiền và tất cả các khoản tiền gửi đều được bảo hiểm). Điều này còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội của từng nước, trong từng giai đoạn khác nhau.
Ví dụ, vào thời kì nền kinh tế ổn định, thị trường tài chính phát triển, các quốc gia thường áp dụng cơ chế bảo hiểm có giới hạn các khoản tiền gửi nhằm củng cố lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com duy trì sự ổn định hoạt động của hệ thống này. Khi nền kinh tế bị khủng hoảng, thường áp dụng cơ chế bảo hiểm toàn bộ nhằm ngăn chặn một cách hữu hiệu hiện tượng rút tiền đồng loạt, bởi lẽ người gửi tiền trong trường hợp này hoàn toàn tin tưởng rằng BHTG sẽ bảo vệ quyền lợi của họ một cách triệt để khi ngân hàng nào đó bị đổ vỡ (ví dụ như một số nước đã làm Hàn Quốc, Mehico, Nhật bản…). Tại Việt Nam, BHTGVN (Deposit in Insurance of Vietnam – tên viết tắt: DIV) là một định chế tài chính nhà nước, được ngân sách cấp vốn điều lệ ban đầu là 1.000 tỉ, nay tăng lên 5.000 tỉ đồng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an toàn vốn và tự bù đắp chi phí. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó nó còn mang tính chất đặc thù, đó là: Hoạt động của tổ chức BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công, không vì mục tiêu lợi nhuận của từng quốc gia.
Trong thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm, gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của hệ thống tài chính - ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội. Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng và ổn định xã hội. BHTG có những đặc điểm như sau: Chủ thể tham gia BHTG chỉ có thể là tổ chức tài chính có nhận tiền gửi của công chúng dưới các hình thức nhất định. Với một hệ thống BHTG công khai thì sự tham gia của các tổ chức tài chính là bắt buộc, nhằm tạo sân chơi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bình đẳng giữa các tổ chức này, tạo nguồn vốn hoạt động cho tổ chức BHTG.
Bên cạnh đó rủi ro sẽ được phân bổ cho các đối tượng đa dạng, tránh tình trạng chỉ có ngân hàng, TCTD yếu kém mới mua bảo hiểm, còn những ngân hàng, TCTD hoạt động tốt thì không mua bảo hiểm. Trên cơ sở đó làm giảm mức độ rủi ro của bản thân tổ chức BHTG và gánh nặng của Chính phủ trong việc hỗ trợ tài chính chi trả bảo hiểm. Ở điểm này, ta thấy BHTG khác với các loại hình bảo hiểm khác có thể bắt buộc và có thể tự nguyện như bảo hiểm xã hội, hoặc tham gia hoàn toàn do ý chí các bên như loại hình kinh doanh bảo hiểm theo luật kinh doanh bảo hiểm. Phí BHTG là khoản phí do pháp luật quy định.
Các bên tham gia quan hệ BHTG không thể thoả thuận về mức phí như các loại hình bảo hiểm khác. Các hệ thống BHTG trên thế giới thường đứng trước sự lựa chọn hai loại phí bảo hiểm: phí đồng hạng hoặc phí căn cứ vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Các nước khi mới thành lập hệ thống BHTG thường áp dụng mức phí bảo hiểm đồng hạng để dễ thực hiện và quản lí. Tuy nhiên, chế độ phí này không đề cập tới mức độ rủi ro của từng ngân hàng đối với hệ thống nên không đảm bảo tính công bằng, dễ gây những phản ứng từ phía các ngân hàng “mạnh”, có quy mô và uy tín lớn trên thị trường.
Do vậy, xu hướng những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, các nước chuyển đổi sang chế độ tính phí theo mức độ rủi ro. Theo cách tính phí này, cơ sở để xác định tỉ lệ phí BHTG là kết quả phân loại tổ chức tham gia BHTG. Ngân hàng nào hoạt động với mức độ rủi ro lớn sẽ phải chịu tỉ lệ phí BHTG cao, ngược lại ngân hàng nào hoạt động tốt, rủi ro thấp sẽ được áp dụng tính phí thấp và còn có thể được miễn phí. Việc tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG tạo ra cơ chế đối xử bình đẳng giữa các tổ chức này và thể hiện xu thế thị trường trong hoạt động BHTG.