Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt gồm 2.953 tuyến với tổng chiều dài 4.369 km, trong đó có 849 tuyến đảm nhận chức năng thoát nước với chiều dài 1.094 km. Mặc dù hạ tầng thủy lợi liên tục được nâng cấp, tình trạng ngập úng đô thị vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Lịch sử quan trắc ghi nhận năm 2008 toàn thành phố có 126 điểm ngập với diện tích ngập 36,7 ha; đến trận mưa cực đoan ngày 25/11/2018, lượng mưa đo được lên tới 204 mm chỉ trong vòng 90 phút đã làm tê liệt 59 tuyến đường trọng điểm.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ đặc trưng đô thị Việt Nam với mật độ ngõ hẻm dày đặc và hệ thống cống nhánh kích thước nhỏ phân bố sâu trong các khu dân cư. Các mô hình thủy văn truyền thống hiện nay chủ yếu sử dụng mô hình chảy tụ một chiều từ lưu vực ra cống chính, hoàn toàn bỏ qua tương tác hai chiều và không thể mô phỏng được hiện tượng nước chảy tràn ngược từ cống lên mặt đường khi triều cường dâng cao vượt mức báo động 3 (trên 1,64 m tại trạm Phú An và 1,66 m tại trạm Nhà Bè).

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xây dựng một mô hình thủy văn lưu vực đô thị thế hệ mới, tích hợp giữa dòng chảy tràn bề mặt hai chiều (2D) và dòng chảy cống ngầm một chiều có áp/không áp (1Dc), có khả năng đại diện hóa mạng lưới cống hẻm nhỏ mà không cần khai báo dữ liệu hình học chi tiết từng tuyến cống.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm với chiều dài tuyến kênh chính 7,6 km, quản lý hệ thống thoát nước cấp 2 và cấp 3 dài 157,1 km cùng 22 cửa xả chính, trực tiếp bảo đảm tiêu thoát nước cho hơn 1,2 triệu người dân thuộc các quận 5, 6, 11, Tân Bình và Tân Phú. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng thuật toán và kiểm định số liệu được thực hiện xuyên suốt từ tháng 02/2022 đến tháng 12/2023.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cắt giảm trên 60% khối lượng dữ liệu đầu vào cần thu thập, nâng cao độ chính xác dự báo ngập với sai số mực nước đỉnh ngập dưới 10%, mang lại công cụ đắc lực hỗ trợ quy hoạch thoát nước bền vững cho đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thủy lực học hiện đại và cơ học chất lưu ứng dụng cho hệ thống tiêu thoát nước phức hợp, kết hợp hai khung lý thuyết toán học nền tảng:

  • Hệ phương trình Saint-Venant 1D: Sử dụng phương trình liên tục và phương trình động lượng bảo toàn để mô tả dòng chảy không ổn định trong mạng lưới kênh hở và hệ thống cống ngầm.
  • Hệ phương trình nước nông 2D (Shallow Water Equations): Ứng dụng để mô phỏng dòng chảy tràn bề mặt hai chiều trên địa hình đô thị phức tạp, giải quyết biến thiên vận tốc và cao trình ngập theo không gian phẳng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm và cơ chế tương tác thủy lực chính:

  • Mô hình cống 1Dc đa trạng thái: Mô tả 3 trạng thái thủy lực biến thiên liên tục trong cống gồm chảy không áp, chảy có áp khi đầy cống và chảy tràn ngược lên mặt đường qua hố ga.
  • Mô hình dòng chảy tràn 2D: Khắc phục nhược điểm của mô hình bể chứa phi tuyến truyền thống bằng cách phản ánh chính xác hướng lan truyền của dòng nước ngập trên bề mặt.
  • Cơ chế liên kết siêu nút (Super-node): Kết nối động học giữa nút cống ngầm 1D và các ô lưới bề mặt 2D thông qua phương trình bán giải tích bảo toàn khối lượng tại miệng hố ga.
  • Mô hình lưu vực tích hợp: Cấu trúc mô hình kép gồm lớp bề mặt 2D và lớp cống ngầm 1Dc tương đương, thay thế hoàn toàn sơ đồ mưa - dòng chảy cục bộ một chiều.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn cơ sở dữ liệu tính toán được thu thập đồng bộ từ các cơ quan quản lý chuyên ngành, bao gồm:

  • Bản đồ cao độ số địa hình (DEM) tỷ lệ 1/2.000 khu vực Tân Hóa - Lò Gốm.
  • Mặt cắt hình học hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai cùng 157,1 km tuyến cống thoát nước hiện hữu.
  • Chuỗi số liệu lưu lượng xả từ 4 hồ chứa thượng lưu (Trị An, Phước Hòa, Dầu Tiếng, Cần Đăng) làm điều kiện biên trên.
  • Số liệu quan trắc mực nước triều tại trạm Vũng Tàu với biên độ dao động từ 3,5 m đến 4,0 m làm điều kiện biên dưới.
  • Chuỗi số liệu mưa thực tế độ phân giải cao, tiêu biểu là trận mưa lịch sử ngày 06/08/2020 gây ngập diện rộng.

Phương pháp phân tích cốt lõi là ứng dụng mô hình toán số trị F28 trên nền tảng phương pháp thể tích hữu hạn (Finite Volume Method). Lý do lựa chọn F28 vì phần mềm này sở hữu mã nguồn mở tối ưu, cho phép tùy biến cấu trúc thuật toán để tích hợp đồng thời mạng lưới sông 1D, cống 1Dc và dòng tràn 2D trên cùng một sơ đồ tính toán thống nhất.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 22 cửa xả chính, hàng nghìn hố ga thu nước và mạng lưới đường giao thông thuộc lưu vực 5 quận nội thành. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật phân vùng thủy lực theo lưu vực nhánh cống cấp 2, cấp 3 kết hợp đo đạc kiểm chứng thực địa tại các điểm ngập sâu trọng điểm nhằm tối ưu hóa quá trình hiệu chỉnh bộ thông số Manning và hệ số tổn thất cục bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng và phân tích đối sánh giữa phương pháp mới và mô hình đối chứng truyền thống đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mô hình dòng chảy tràn truyền thống xuất hiện sai số lớn khi triều cường dâng cao trên 1,40 m. Do chỉ cho phép tính dòng chảy một chiều từ lưu vực ra cống, mô hình cũ không thể ghi nhận hiện tượng nước từ sông Sài Gòn truyền ngược qua 22 cửa xả vào hệ thống cống và tràn lên mặt đường, dẫn đến ước tính thiếu hụt tới 35% thể tích ngập thực tế trong các đợt triều cường kết hợp mưa lớn.

Thứ hai, mô hình lưu vực tích hợp mới (2D mặt kết hợp 1Dc cống ngầm) tái hiện chính xác diễn biến ngập lụt tại các trục đường huyết mạch. Điển hình trong trận mưa ngày 06/08/2020, mô hình ghi nhận chính xác thời điểm xuất hiện đỉnh ngập và độ sâu ngập tối đa tại đường An Dương Vương đạt 0,48 m (thực tế đo đạc 0,50 m, sai số chỉ 4%) và đường Phan Anh đạt 0,42 m (thực tế 0,45 m, sai số 6,7%), thời gian nước rút hoàn toàn sau khi dứt mưa dao động từ 2 đến 4 giờ.

Thứ ba, phương pháp mới giúp tối ưu hóa hiệu năng tính toán vượt bậc. Số lượng phần tử cống ngầm chi tiết cần khai báo giảm hơn 60% so với mô hình cống chi tiết hoàn toàn, giúp rút ngắn thời gian thiết lập dữ liệu lưu vực từ nhiều tháng xuống còn vài ngày mà vẫn đảm bảo hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt trên 0,85 đối với đường quá trình lưu lượng đỉnh.

Thứ tư, nghiên cứu xác định rõ ranh giới cao độ địa hình 2,0 m là ngưỡng phân chia thủy lực then chốt của lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm. Vùng thượng lưu thuộc quận Tân Bình và quận 11 có cao độ từ 5 đến 10 m đạt khả năng tự thoát nước nhanh, trong khi vùng hạ lưu quận 6 có cao độ dưới 2,0 m chịu áp lực ngập kép nặng nề do cả mưa cục bộ và áp lực triều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt vượt trội của mô hình mới là nhờ cơ chế bán giải tích mô tả chính xác sự trao đổi lưu lượng qua lại giữa miệng hố ga và mặt đường. Khi cống chuyển từ trạng thái chảy không áp sang có áp, gradient áp lực đẩy dòng nước trào ngược lên bề mặt 2D; ngược lại khi mực nước ngoài kênh hạ thấp, địa hình 2D dẫn dòng chảy mặt quay trở lại cống ngầm theo đúng độ dốc thực tế.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế như mô hình tích hợp 1D/2D của Jorge Leandro năm 2009 hay mô hình PCSWMM của Huabing Huang năm 2018 tại Quảng Châu, mô hình đề xuất trong luận văn giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt dữ liệu cống hẻm tại các đô thị đang phát triển. Thay vì phải khảo sát hàng nghìn tuyến cống ngõ ngách, mô hình tích hợp gom các cống nhánh thành một thông số dẫn dòng tương đương được hiệu chuẩn chính xác.

Kết quả tính toán thủy lực được trực quan hóa sinh động qua các bản đồ ngập lụt 2D dạng số và đồ thị quá trình ngập theo thời gian. Trên bản đồ số, thang màu biểu thị độ sâu ngập phân cấp từ 0,1 m đến trên 0,6 m cho phép nhận diện ngay các túi nước cục bộ, trong khi biểu đồ biến thiên mực nước tại các hố ga kiểm soát thể hiện trực quan mối tương quan giữa đỉnh triều và thời gian ngập úng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình cụ thể:

  • Số hóa và chuẩn hóa dữ liệu hạ tầng cống ngõ hẻm: Tiến hành điều tra, đo đạc và cập nhật tọa độ, cao độ đáy cống của 157,1 km mạng cống cấp 2, 3 và cống nhánh trên hệ thống GIS; mục tiêu chuẩn hóa 100% dữ liệu hình học mạng cống nhánh; hoàn thành trong giai đoạn 2024-2026; chủ thể thực hiện là Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật phối hợp cùng UBND các quận 6, 11, Tân Bình, Tân Phú và Bình Tân.
  • Lắp đặt van ngăn triều một chiều và trạm bơm hỗ trợ cục bộ: Triển khai lắp đặt van ngăn triều tự động tại toàn bộ 22 cửa xả chính đổ ra kênh Tân Hóa - Lò Gốm nhằm ngăn triều dâng trên 1,60 m chảy ngược vào khu dân cư, đồng thời bố trí các trạm bơm dã chiến công suất từ 5 đến 10 m3/s tại các vùng trũng dưới cao độ 1,5 m; hoàn thành trước mùa mưa năm 2025; chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Đô thị TP.HCM.
  • Ứng dụng mô hình toán F28 vào hệ thống cảnh báo sớm ngập lụt thông minh: Tích hợp công cụ mô hình 2D-1Dc vào nền tảng WebGIS đô thị thông minh để dự báo trước tình trạng ngập từ 30 đến 60 phút theo các bản tin dự báo mưa vệ tinh và triều cường; đạt độ chính xác dự báo không gian ngập trên 85%; triển khai trong lộ trình 2025-2027; chủ thể chủ trì là Sở Thông tin và Truyền thông kết hợp với Sở Xây dựng TP.HCM.
  • Quy hoạch phát triển hệ thống thoát nước bền vững (SUDS) và hồ điều tiết phân tán: Xây dựng các hồ điều tiết ngầm kết hợp công viên cây xanh tại khu vực Bàu Cát và các vùng trũng quận 6 với dung tích trữ tối thiểu 50.000 m3 để giảm từ 15% đến 20% lưu lượng đỉnh dòng chảy tràn khi có mưa cực đoan vượt 100 mm; thực hiện trong giai đoạn 2025-2030; chủ thể thực hiện là Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà quản lý đô thị và cơ quan hoạch định chính sách: Điển hình là Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật TP.HCM. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá lại tính khả thi của Quy hoạch 752 và Quy hoạch 1547, hỗ trợ ra quyết định đầu tư công trình chống ngập chính xác, tránh lãng phí ngân sách.
  • Các kỹ sư tư vấn thiết kế và chuyên gia thủy kỹ thuật: Các công ty tư vấn cấp thoát nước đô thị có thể sử dụng trực tiếp phương pháp tích hợp mô hình 2D-1Dc để tính toán thủy lực mạng lưới cống cho các dự án nâng cấp đô thị, khu dân cư mới có địa hình bằng phẳng và chịu tác động triều phức tạp.
  • Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về Thủy văn, Kỹ thuật Tài nguyên nước, Biến đổi khí hậu tại các trường đại học khối kỹ thuật. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp số, ứng dụng phương trình Saint-Venant và phương trình nước nông trong giải bài toán ngập đô thị thực tế.
  • Các doanh nghiệp công nghệ phát triển giải pháp Đô thị thông minh (Smart City): Các đơn vị xây dựng phần mềm quản lý ngập, bản đồ ngập trực tuyến, ứng dụng AI cảnh báo thời gian thực có thể khai thác thuật toán mô phỏng dòng chảy ngầm và bề mặt của luận văn để tích hợp vào lõi phân tích dữ liệu không gian.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đột phá của mô hình lưu vực mới so với phương pháp thủy văn truyền thống là gì? Mô hình mới tích hợp đồng thời dòng tràn bề mặt 2D và dòng cống ngầm 1Dc, cho phép dòng nước trao đổi hai chiều linh hoạt qua hố ga. Phương pháp truyền thống chỉ tính được dòng chảy xuôi một chiều từ lưu vực ra cống, trong khi mô hình mới mô phỏng chính xác hiện tượng nước tràn ngược từ cống lên đường khi triều dâng trên 1,60 m.

Tại sao phần mềm F28 được chọn thay vì các phần mềm thương mại như PCSWMM hay MIKE FLOOD? Phần mềm F28 là công cụ mô hình toán mã nguồn mở linh hoạt, cho phép tích hợp trực tiếp các module sông 1D, cống 1Dc và dòng tràn 2D bằng phương pháp thể tích hữu hạn. F28 xử lý tốt bài toán mạng lưới hàng chục nghìn đoạn tính với chi phí vận hành tối ưu, không bị phụ thuộc vào bản quyền thương mại đắt đỏ.

Mô hình giải quyết bài toán thiếu dữ liệu cống hẻm tại đô thị Việt Nam như thế nào? Thay vì phải đo đạc chi tiết hàng nghìn tuyến cống nhỏ trong các ngõ hẻm chật hẹp, mô hình mới quy đổi toàn bộ mạng lưới cống nhánh thành các thông số thủy lực tương đương trong lớp mô hình 1Dc. Điều này giúp cắt giảm hơn 60% dữ liệu hình học cần khai báo mà vẫn bảo đảm độ chính xác mô phỏng dòng chảy tụ.

Lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm có đặc thù thủy văn nào gây khó khăn nhất cho bài toán thoát nước? Khu vực này có địa hình phân hóa mạnh: thượng lưu cao từ 5 đến 10 m trong khi hạ lưu quận 6 trũng thấp dưới 2,0 m. Khi gặp tổ hợp bất lợi giữa mưa cực đoan trên 100 mm và triều cường sông Sài Gòn dâng cao trên 1,64 m, hệ thống 157,1 km cống bị quá tải cục bộ và nước triều đẩy ngược vào sâu nội đô.

Độ chính xác của mô hình đã được kiểm chứng qua trận mưa thực tế nào? Mô hình đã được hiệu chỉnh và kiểm định độc lập với trận mưa thực tế ngày 06/08/2020. Kết quả mô phỏng độ sâu ngập tại các điểm nóng như đường An Dương Vương (đạt 0,48 m so với thực tế 0,50 m) và đường Phan Anh (đạt 0,42 m so với thực tế 0,45 m) có sai số dưới 7%, thời gian duy trì ngập hoàn toàn trùng khớp thực tế.

Kết luận

  • Đã xây dựng thành công mô hình lưu vực tích hợp thế hệ mới, kết hợp linh hoạt dòng chảy tràn bề mặt 2D và dòng cống ngầm 1Dc trên nền tảng phần mềm F28.
  • Giải quyết triệt để hiện tượng dòng chảy tràn ngược qua hố ga trong điều kiện triều cường dâng cao trên 1,64 m, khắc phục toàn diện nhược điểm của mô hình thủy văn truyền thống.
  • Tiết giảm trên 60% khối lượng dữ liệu cống hẻm cần khảo sát, nâng cao hiệu suất tính toán số và đạt độ chính xác mô phỏng ngập lụt với sai số mực nước đỉnh dưới 7%.
  • Đã kiểm chứng thành công trên lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm với quy mô 157,1 km cống thoát nước và 22 cửa xả chính, phục vụ bảo vệ hạ tầng cho hơn 1,2 triệu cư dân đô thị.
  • Định hình lộ trình mở rộng ứng dụng mô hình cho toàn bộ 5 lưu vực nội thành TP.HCM trong giai đoạn 2024-2028 nhằm hướng đến mục tiêu quản lý ngập lụt thông minh.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp một khung phương pháp luận mô hình hóa tiên tiến, thích ứng hoàn hảo với cấu trúc hạ tầng đô thị đặc thù tại Việt Nam. Quý cơ quan quản lý, doanh nghiệp tư vấn và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để ứng dụng và chuyển giao công nghệ mô phỏng thủy lực phục vụ công tác quy hoạch thoát nước bền vững.