Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình quản lý chất lƣợng đào tạo. - Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng công tác quản lý chất lƣợng đào tạo tại Đại học Ngoại ngữ Quân sự. z 14 - Chương 3: Mô hình quản lý chất lƣợng đào tạo và các giải pháp triển khai mô hình tại Đại học Ngoại ngữ Quân sự. - Chương 4: Kết quả thử nghiệm các giải pháp.
Phần kết luận và khuyến nghị. Ngoài ra luận văn còn có danh mục công trình của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. z 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Bƣớc vào những năm đầu của thiên niên kỷ mới, loài ngƣời đang chứng kiến những thay đổi to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sự thay đổi đó là quá trình toàn cầu hóa. Hội nhập, hợp tác và cạnh tranh đã và đang mang lại sự tăng trƣởng nhanh chóng cho nhiều quốc gia, nhƣng đồng thời cũng làm tăng nhanh khoảng cách giữa các nƣớc giàu và các nƣớc nghèo. Nhân tố quyết định thành công trong hợp tác và thắng lợi trong cạnh tranh là chất lƣợng sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Đó là nguồn nhân lực chất lƣợng cao.
Từ những năm 1990, nhóm Tƣơng lai học (MEGATRENDS) đã công bố những dự báo cho nhân loại trong thế kỷ 21: “Trong trật tự kinh tế thế giới mới nƣớc nào đầu tƣ nhiều nhất vào giáo dục, nƣớc đó sẽ có khả năng cạnh tranh mạnh nhất …”[18]. Từ những nhận thức trên mỗi quốc gia đã tự tìm cho mình một mô hình đào tạo riêng, đặc biệt là mô hình đào tạo đại học phù hợp với hoàn cảnh của đất nƣớc, đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa nền kinh tế. Quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao đáp ứng nhu cầu tăng trƣởng nhanh của nền kinh tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học đã trở thành nhu cầu cấp thiết cho mỗi quốc gia trong xã hội phát triển.
Từ vài thập kỷ qua, chất lƣợng giáo dục đã là vấn đề đƣợc quan tâm nhiều nhất của cộng đồng đại học thế giới và của hầu hết các quốc gia phát triển cũng nhƣ đang phát triển. Nhƣng để đánh giá, đo lƣờng và xây dựng những điều kiện bảo đảm chất lƣợng giáo dục lại là một vấn đề không dễ dàng. Xuất phát từ những lý do trên các tổ chức bảo đảm chất lƣợng giáo dục đại học quốc tế và khu vực đã ra đời. Tổ chức Bảo đảm chất lƣợng Đại học Quốc tế - INQAAHE (International Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education) hình thành vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, bao gồm các hội viên là các cơ quan bảo đảm chất lƣợng giáo z 16 dục đại học của các nƣớc.
Các thành viên tham gia trên tinh tinh thần tự nguyên và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí do INQAAHE đề ra. Đây là tổ chức duy nhất có khả năng kết nối các cơ quan kiểm định của các quốc gia trên thế giới và đứng ra thành lập ban điều phối với các tổ công tác hỗ trợ về công tác kiểm định, đánh giá chất lƣợng, xây dựng những tiêu chí bảo đảm chất lƣợng và định hƣớng hoạt động cho cơ quan kiểm định chất lƣợng các nƣớc. Bên cạnh đó một số cơ quan bảo đảm chất lƣợng quốc tế đã hình thành các tổ chức bảo đảm chất lƣợng cho riêng mình nhƣ: Liên minh Toàn cầu về chuyển đổi giáo dục quốc gia (GATE) đƣợc thành lập năm 1985, tập trung giải quyết những vấn đề về chất lƣợng giáo dục và đề xuất các giải pháp về chuyển đổi chất lƣợng giáo dục giữa các quốc gia. Hiệp hội các trƣờng Đại học Châu Âu đã xây dựng dịch vụ kiểm định chất lƣợng đào tạo của các trƣờng thành viên (CRE).
Dịch vụ này do các chuyên gia đánh giá về chất lƣợng giáo dục hàng đầu khu vực thực hiện. Khối các nƣớc công nghiệp phát triển gồm 15 nƣớc ngay từ năm 1988 đã hợp tác xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng giáo dục sử dụng cho các trƣờng đại học trong khối. Bộ tiêu chí bao gồm 16 tiêu chí nhằm bảo đảm chất lƣợng cho tất cả các trƣờng đại học thuộc các nƣớc thành viên (OECD). Đối với công tác bảo đảm chất lƣợng giáo dục đại học khu vực Đông Nam Á, từ năm 1995 các trƣờng đại học thuộc mạng lƣới đại học khối ASEAN đã thành lập Tổ chức các trƣờng đại học khu vực (AUN).
Căn cứ vào chuẩn quốc tế và điều kiện thực tiễn trong khu vực, tổ chức này đã xây dựng hệ thống bảo đảm chất lƣợng gồm 5 nguyên tắc và 6 tiêu chí nhằm thống nhất công tác bảo đảm chất lƣợng của các trƣờng đại học thành viên [46,tr. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa việc bảo đảm chất lƣợng giáo dục đại học đã đặc biệt đƣợc quan tâm ở hầu hết các nƣớc. Hiện có trên 100 nƣớc đã có hệ thống bảo đảm chất lƣợng giáo dục đại học, phần lớn đƣợc hình thành từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Công tác bảo đảm chất lƣợng giáo dục của các nƣớc phần lớn đƣợc thực hiện bằng hệ thống kiểm tra, kiểm định và kiểm toán chất lƣợng các trƣờng đại học, trong đó công tác kiểm định đƣợc ƣu tiên hàng đầu.
z 17 Đối với việt Nam, chiến lƣợc phát triển giáo dục đại học cho tới năm 2020 đã đƣợc Đảng và Chính phủ vạch ra với mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo đƣợc sự chuyển biến cơ bản về chất lƣợng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Định hƣớng đến năm 2020 giáo dục đại Việt Nam đạt trình độ trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến của đại học trên thế giới ; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học là việc làm thƣờng xuyên đối với các cơ sở đào tạo đại học và các cơ quan quản lý giáo dục. Ngày 2 tháng 12 năm 2004 Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT đã ký quyết định số 38/2004 ban hành quy chế tạm thời về kiểm định chất lƣợng trƣờng đại học bằng Bộ tiêu chí kiểm định bao gồm 53 tiêu chí thuộc 10 lĩnh vực.
Đây là Bộ tiêu chí kiểm định chất lƣợng đại học đầu tiên của Việt Nam và sẽ đƣợc thí điểm cho 20 trƣờng đại học. Căn cứ vào quyết định số: 76/2007/QĐ-BGĐT ngày 14/12/2007 quy định về kiểm định trƣờng đại học, cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp, Bộ GD&ĐT đã tiến hành kiểm định 20 trƣờng Đại học. Hiện đang có 20 trƣờng đại học đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá (đánh giá trong) đang chờ đánh giá ngoài ; 47 trƣờng đại học và 62 trƣờng cao đẳng khác đã đƣợc tập huấn và đang triển khai tự đánh giá (nguồn Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng). Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lƣợng giáo dục đã đặc biệt đƣợc chú trọng, đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và kiểm định chất lƣợng.
Ngoài cục Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng giáo dục đƣợc thành lập, còn có 55/63 sở giáo dục có phòng khảo thí, có 55 đơn vị chuyên trách về bảo đảm chất lƣợng đƣợc thành lập ở các trƣờng đại học và cao đẳng trong cả nƣớc( nguồn: Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020). Các tổ chức này đƣợc thành lập sẽ là công cụ, là đòn bẩy từng bƣớc nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ công cuộc công nhiệp hoá, hiện đại hóa đất nƣớc. Tiếp cận công tác bảo đảm chất lƣợng trên thế giới, từ năm 2000 Việt nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế về bảo đảm chất lƣợng giáo z 18 dục, tập trung vào GDĐH nhƣ: Hội thảo về “Bảo đảm chất lƣợng trong giáo dục đại học Việt Nam” do Bộ GD&ĐT phối hợp với UNESCO tổ chức tháng 4 năm 2000 tại Đà Lạt. Hội thảo quốc tế với chủ đề “Chất lƣợng giáo dục và kỹ năng sống” do Văn phòng giáo dục UNESCO khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng tổ chức tại Hà Nội tháng 9 năm 2003.
Hội thảo về “chất lƣợng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa Sƣ phạm - ĐHQGHN tổ chức tháng 10 năm 2004 tại Hà Nội và Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam với chủ đề “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” do Hội đồng Giáo dục Quốc gia tổ chức tại Hà Nội tháng 6 năm 2004 vv. Trong xu thế phát triển của bảo đảm chất lƣợng khu vực và thế giới các cơ sở đào tạo trong nƣớc đã đầu tƣ đáng kể cho việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống bảo đảm chất lƣợng, tập trung vào bảo đảm chất lƣợng giáo dục đại học. Năm 2000, Trung tâm Đảm bảo chất lƣợng đào tạo và Nghiên cứu phát triển Giáo dục thuộc ĐHQGHN đã triển khai đề tài cấp Nhà nƣớc: “Nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng đào tạo dùng cho các trƣờng đại học Việt Nam”. Kết quả công trình là Bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng và điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo dùng cho các trƣờng đại học Việt Nam bao gồm 26 tiêu chí thuộc 6 lĩnh vực hoạt động của trƣờng đại học.
Đây là Bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng đào tạo đại học đầu tiên của Việt Nam [28,tr. Từng bƣớc hoàn thiện quy trình đánh giá chất lƣợng giáo dục và tham gia hội nhập giáo dục khu vực và thế giới, Viện Chiến lƣợc và Chƣơng trình giáo dục, Bộ GD&ĐT đã triển khai thực hiện công trình nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng giáo dục và đánh giá chất lƣợng giáo dục” Mã số : B- 2004- CTGD-01.Trên cơ sở những tiêu chí cơ bản do đề tài xây dựng, các cở sở đào tạo tham khảo để đánh giá chất lƣợng hoặc xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá chất lƣợng đào tạo cho riêng mình [19].