Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. Chương 2: Thiết kế kế hoạch dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương oxi – lưu huỳnh Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƢỢC TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Trong lịch sử giáo dục, NLTH cho HS vẫn luôn được quan tâm và chú trọng nhất trong quá trình dạy và học. Trải qua nhiều thời kì nhưng vai trò cá nhân trong quá trình tự học tự nghiên cứu luôn được đề cao. Đòi hỏi người học cần phải chủ động tích cực, trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho bản thân và người dạy có trách nhiệm của là phải khơi gợi những năng lực tiềm ẩn bên trong người học. Rubakin [5] trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm của mình trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học.
Theo tác giả, việc tự tìm lấy kiến thức, tri thức có nghĩa là tự học. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm và nghiên cứu đến TH và bồi dưỡng NLTH. Nhà sư phạm người Nhật T. Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn TH mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng [19].
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược để bồi dưỡng NLTH cho HS như của Janet (2012), Marcey và Brint (2012), Brunsell và Horejsi (2013) cho biết: HS có thái độ học tập tích cực hơn, chủ động xem các video trước ở nhà và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khi nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược để phát triền NLTH cho HS Marcey và Brint (2012), Guy và Marquis (2016) đều kết luận rằng việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược có tác động đến thành tích học tập của SV. Qua bài kiểm tra đánh giá thì điểm số các SV ở lớp học truyền thống thập hơn nhiều so với SV trong lớp học đảo ngược đạt. Bên cạnh đó SV học theo mô hình lớp học đảo ngược cũng chủ động, tích cực hơn trong quá trình học tập.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của TH, bồi dưỡng NLTH sử dụng mô hình lớp học đảo ngược. Các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng của tự học và nhiệm vụ của giáo viên là hướng dẫn, tổ chức, bồi dưỡng cho phát triển HS NLTH. Hoạt động dạy học là hoạt động đồng thời của cả GV và HS, dạy cho HS biết cách TH được xem là hoạt động dạy tự học. Ở Việt Nam Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng phát triển năng lực cho HS và đặc biệt là TH tự sáng tạo.
Có nhiều tác giả đã nghiên cứu về TH và bồi dưỡng NLTH ví dụ như: “Tự học để thành công” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành, Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường Phổ Thông của Nguyễn Văn Biên,… và còn nhiều nghiên về các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS. Ở Việt Nam, mô hình lớp học đảo ngược mới được biết đến trong vài năm gần đây, hầu hết là các bài viết giới thiệu trên các bài báo, tạp chí, trang tin của các trường hoặc các cơ sở đào tạo. Qua 1 số ít báo cáo, nghiên cứu khoa học đã công bố ở Việt Nam như Nguyễn Chính [3], mô hình này được đánh giá là đã hỗ trợ hiệu quả giúp nâng cao NLTH cho HS, phát triển theo hướng dạy học lấy người học làm trung tâm, cải thiện sự thụ động của học sinh trong học tập, năng lực sử dụng CNTT và năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống cho HS tiến bộ hơn; qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai đáp ứng yêu cầu xã hội. Tuy các nghiên cứu về TH và bồi dưỡng NLTH sử dụng mô hình lớp học đảo ngược đã được diễn ra từ lâu và việc vận dụng đã có một số kết quả nhất định nhưng chủ yếu là các nghiên cứu, vận dụng trong dạy học ở các trường Đại học vì đòi hỏi tính tự học cao hơn.
Chính vì thế đề tài được chúng tôi nghiên cứu theo hướng đề xuất mô hình lớp học đảo ngược phù hợp với mục đích bồi dưỡng NLTH, đặc biệt đối với bộ môn Hóa học ở trường THPT. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm năng lực F.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kỹ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các tình huống linh hoạt”.
Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”. Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ và tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Theo Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [6]. Theo một số nghiên cứu NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của một cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các NL hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò quan trọng, NL của con người phần lớn do cộng tác, luyện tập mà nên chứ không tự nhiên mà có. Như vậy có thể coi năng lực là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất của một cá nhân hoặc tổ chức nhằm thực hiện một nhiệm vụ có kết quả tốt. Cấu trúc năng lực Dựa trên những khái niệm về năng lực, người ta chia năng lực thành hai loại chính, đó là năng lực chung và năng lực đặc thù môn học. [18] Năng lực chung là những năng lực trong một phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Nhóm năng lực chung bao gồm: + Khả năng hành động độc lập thành công. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ. + Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất. NL đặc thù môn học là sự kết hợp độc đáo các thuộc tính chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên môn và là điều kiện cho hoạt động này đạt kết quả tốt.
ác phương pháp đánh giá năng lực a. Đánh giá qua hồ sơ học tập Đánh giá qua hồ sơ học tập là sự theo dõi quá trình trao đổi ghi chép của HS, cũng như ý thức, thái độ của HS với quá trình học tập của mình và đối với mọi người,… giúp cho HS nhận thấy được những tiến bộ rõ rệt của chính mình và GV phát hiện được khả năng của từng học sinh HS. Qua đó GV có thể đưa ra hoặc điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp với từng HS. Đánh giá qua quan sát Đánh giá quan sát là GV thông qua việc quan sát mà quan sát các HS các thao tác, động cơ, các hành vi, kỹ năng thực hành, nhận thức như cách giải quyết vấn đề trong một tình huống cụ thể.
Tự đánh giá Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS sẽ tự liên kết phần nhiệm vụ và kết quả đã thực hiện với các mục tiêu trong quá trình học. HS sẽ học được cách đánh giá các tiến bộ và nỗ lực cá nhân, nhìn lại quá trình học tập của mình và phát hiện những điều thiếu sót, cần thay đổi để hoàn thiện bản thân. Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là HS tự cho cá nhận mình điểm số mà là tự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả cẩu bản thân. HS cần tham gia vào quá trình quyết định những tiêu chí có lợi cho việc học.
Đánh giá đồng đẳng Đánh giá đồng đẳng là một quá trình đánh giá trong đó các HS sẽ đánh giá lẫn nhau trong các hoạt động và học tập. HS sẽ theo dõi bạn trong lớp của mình trong suốt quá trình học và đánh giá bạn qua các tiêu chí đánh giá, từ đó sẽ biết thêm các kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với GV. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đánh giá qua bài kiểm tra kiến thức Đây là một hình thức GV đánh giá NL của HS bằng cách cho HS hoàn thành một bài kiểm tra trong khoảng thời gian nhất định sau đó GV chấm bài và đánh giá qua điểm số bài làm của HS.
Thông qua kết quả bài kiểm tra GV có thể đánh giá được những kỹ năng và kiến thức HS đã đạt được và chưa đạt được, từ đó điều chỉnh lại kế hoạch dạy học. Một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông Xu thế của giáo dục hiện nay là dạy học theo hướng phát triển NL của người HS. Xu hướng chung của giáo dục hiện đại là chuyển từ dạy học tập trung vào kiến thức sang tập trung vào dạy học phát triển năng lực. Đối với HS THPT cần có các NL chủ yếu sau: [11] [16] - Năng lực cốt lõi + Nhóm NL làm chủ và phát triển bản thân : năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực tự quản lí.