Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số chuyên ngành đào tạo thí điểm) của nghiên cứu sinh Phạm Hồng Trang với đề tài "Xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dưới tiếp cận hệ thống đổi mới", được hoàn thành năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Học và PGS. Đào Thanh Trường.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Mối quan hệ giữa ba khu vực nghiên cứu, đào tạo và sản xuất (thường gọi là tam giác liên kết) đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận án phân tích bối cảnh lịch sử quản lý khoa học và công nghệ (KH&CN) tại Việt Nam qua ba giai đoạn:

  1. Thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986): Hệ thống KH&CN hình thành từ năm 1959 với việc thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước. Đặc điểm giai đoạn này là nghiên cứu khoa học tách rời đào tạo và sản xuất; trường đại học chỉ đảm nhiệm chức năng đào tạo, trong khi các viện nghiên cứu trực thuộc các Bộ ngành chỉ liên kết với khu vực sản xuất và doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch hành chính tập trung.
  2. Thời kỳ 1986 - 2005 (trước Nghị định 115/2005/NĐ-CP): Thể chế liên kết bắt đầu được định hình với Nghị định số 35/HĐBT (năm 1992), Quyết định 324/CT (năm 1993), Luật KH&CN năm 2000 và Luật Giáo dục. Tuy nhiên, vai trò nghiên cứu khoa học của các trường đại học vẫn còn mờ nhạt.
  3. Thời kỳ từ năm 2005 đến thời điểm nghiên cứu: Nghị định 115/2005/NĐ-CP thiết lập cơ chế tự chủ cho tổ chức KH&CN. Các trường đại học đã chú trọng hơn đến nghiên cứu và phục vụ xã hội. Dù vậy, mối liên kết trường – viện – doanh nghiệp thực tế vẫn lỏng lẻo, doanh nghiệp chưa sẵn sàng hấp thụ kết quả nghiên cứu, dẫn đến tình trạng phát triển biệt lập, cát cứ.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các cách tiếp cận hiện có như lý thuyết ba vòng xoắn (Triple Helix) tuy nhấn mạnh vai trò của đại học kinh thương nhưng dễ dẫn đến nguy cơ độc quyền công nghệ. Trong khi đó, tiếp cận hệ thống đổi mới (HTĐM) xem hành vi tương tác đổi mới là đối tượng chính sách trung tâm và doanh nghiệp là chủ thể thực hiện. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có chính sách đổi mới đầy đủ và thiếu các điều kiện tương thích. Do đó, yêu cầu đặt ra là tiếp thu có chọn lọc tiếp cận HTĐM để xây dựng một mô hình liên kết có sự điều chỉnh, phù hợp với thể chế và bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở Việt Nam dưới tiếp cận HTĐM.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • a) Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới, HTĐM, chính sách đổi mới; cơ sở lý luận về mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp và tiếp cận HTĐM trong việc thiết lập mô hình.
    • b) Đánh giá thực trạng mối liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp và các yếu tố tác động đến mối liên kết ba bên tại Việt Nam.
    • c) Đề xuất mô hình liên kết và hệ thống giải pháp bảo đảm mô hình vận hành hiệu quả dưới tiếp cận HTĐM có điều chỉnh.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi chủ đạo: Mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế như thế nào dưới tiếp cận HTĐM?
  • Các câu hỏi cụ thể:
    1. Vì sao dựa vào tiếp cận HTĐM để xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp?
    2. Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp đang diễn ra như thế nào?
    3. Cần có những điều kiện gì để vận hành tốt mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận HTĐM trong bối cảnh nước ta hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết chủ đạo: Trong bối cảnh nước ta hiện nay, mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, là nhà đầu tư và tiêu thụ sản phẩm KH&CN của trường, viện; hoạt động KH&CN của trường, viện ngoài mục tiêu tăng cường năng lực bản thân sẽ chủ yếu phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp; Chính phủ vừa đóng vai trò hỗ trợ, đảm bảo cho mối liên kết thông qua tạo dựng khung hành lang pháp lý vừa tham gia vào quá trình liên kết theo hình thức hợp tác công - tư.
  • Các luận điểm cụ thể:
    • Tiếp cận HTĐM là kết quả của quá trình tiến hóa các lý thuyết đổi mới, có khả năng tạo ra sản phẩm đổi mới.
    • Việc liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở nước ta đã có song mối liên kết còn hạn chế nhiều so với tiềm năng.
    • Cần có tổng hợp các điều kiện về cơ chế chính sách, tài chính, nhân lực, bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) và các điều kiện cụ thể cho từng phân hệ của tam giác liên kết để vận hành mô hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dưới tiếp cận HTĐM.
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng liên kết thông qua ba dòng tri thức: trao đổi nhân lực, chuyển giao kết quả nghiên cứu và trao đổi thông tin; đề xuất mô hình liên kết và giải pháp vận hành.
  • Phạm vi không gian khảo sát:
    • 04 trường đại học: Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN), Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN / Đại học Nông nghiệp I), Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHCN), Trường Đại học Lao động – Xã hội (ĐHLĐXH).
    • 04 viện nghiên cứu: Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp (IMI), Viện Vật lý Kỹ thuật (VLKT), Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (CNSH&CNTP), Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng (NCPTCT).
    • 104 doanh nghiệp khảo sát.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa thực hiện từ năm 2014 đến thời điểm bảo vệ (2018); phân tích dữ liệu văn bản chính sách từ năm 2004 trở lại đây (mốc Quyết định 171/TTg của Thủ tướng Chính phủ), kết hợp dữ liệu lịch sử từ trước năm 1986.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các tài liệu nghiên cứu trước đây thành hai nhóm chính:

Nhóm công trình nghiên cứu về hệ thống đổi mới và chính sách đổi mới

  1. Khái niệm và cấu trúc HTĐM:
    • Freeman (1982b) lần đầu đưa ra khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia (HTĐMQG) dựa trên nghiên cứu xã hội Nhật Bản, nhấn mạnh 4 yếu tố: chính sách nhà nước; vai trò R&D của doanh nghiệp; vốn con người và tổ chức lao động; cấu trúc đoàn hội nhằm hạn chế cạnh tranh.
    • Lundvall (1992) xem HTĐMQG là hệ thống xã hội với trung tâm là học tập, nghiên cứu và khai thác tri thức, tập trung vào nguồn gốc, bản chất đổi mới và các thể chế phi thị trường.
    • Nelson và Rosenberg (1993) tiếp cận đổi mới theo chuỗi tuyến tính Khoa học – Công nghệ – Đổi mới, gắn HTĐM với hệ thống khoa học và chính sách công nghệ quốc gia.
    • Nghiên cứu của Bộ Công nghiệp, Khoa học và Du lịch Australia (1996) xác định 4 cụm nhân tố tác động đến đổi mới kinh doanh: động lực đổi mới; chuyển dịch cơ quan; nền tảng khoa học kỹ thuật; phạm vi thể chế rộng lớn.
    • Lundvall, Chaminade và Vang (2009) định nghĩa HTĐMQG ở các nước đang phát triển là hệ thống mở, tiến hóa và phức tạp, kết hợp học hỏi dựa trên khoa học và kinh nghiệm.
    • Nguyễn Võ Hưng (2013) chỉ rõ các đặc trưng của HTĐMQG đang hình thành tại Việt Nam: tính không đầy đủ, tương tác của doanh nghiệp là chủ đạo nhưng còn yếu về năng lực thiết kế và thị trường, trường viện đóng vai trò hỗ trợ thay vì dẫn dắt, thể chế chính thức thiếu và yếu, chính phủ bị phân tán mục tiêu.
    • Nguyễn Mạnh Quân (2001, 2012) phân tích 4 dòng tri thức trong HTĐMQG (hợp tác kỹ thuật trong công nghiệp, tương tác công - tư, phổ biến công nghệ, di chuyển cán bộ); so sánh kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học Keynes mới và kinh tế học đổi mới để đề xuất việc hoạch định chính sách đồng bộ thay vì chia cắt.
    • OECD (2013) và Henry Chesbrough đưa ra khung lý thuyết về "đổi mới mở" (open innovation), nhấn mạnh việc huy động tri thức bên ngoài và chia sẻ rủi ro. Nghiên cứu của Đại học Quản lý Singapore (2013) phân tích 5 thành tố của công viên KH&CN trong việc làm cầu nối đổi mới mở.
    • Trần Ngọc Ca và Nguyễn Võ Hưng (2012) khảo sát các doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ, chỉ ra sự thiếu vắng chính sách trực tiếp về đổi mới công nghệ và khung chức năng gồm 4 nhóm hoạt động: cung cấp đầu vào tri thức, hoạt động mặt cầu, hình thành thành phần hệ thống, hỗ trợ ươm tạo tài chính.
    • Trần Công Yên (2012) xác định 3 vai trò của nhà nước và vai trò giải mã công nghệ của trường viện; lưu ý chu kỳ thương mại hóa kéo dài trung bình 7 - 12 năm.
    • Đặng Duy Thịnh (2012) tổng kết hệ thống chính sách tài chính, thuế, quỹ KH&CN (Quyết định 175/CP năm 1981, Nghị quyết 51-HĐBT năm 1983, Nghị định 119/1999/NĐ-CP, Luật KH&CN 2000, Nghị định 81/2002/NĐ-CP, Luật Chuyển giao công nghệ 2006, Luật Công nghệ cao 2008, Nghị định 96/2010/NĐ-CP), đề nghị chuyển từ mô hình quản lý tuyến tính sang HTĐMQG lấy doanh nghiệp làm trung tâm.

Nhóm công trình nghiên cứu về liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp

  1. Nghiên cứu quốc tế:
    • Claes Brundenius và cộng sự (2009), Yusuf và Nabeshin (2007) phân tích chức năng thứ ba của đại học (liên kết phục vụ công nghiệp và xã hội) tại 12 quốc gia đang phát triển.
    • Sara Guri và cộng sự (2004) xem hoạt động nghiên cứu là chỉ số xếp hạng của đại học.
    • Kinh nghiệm Thụy Điển (2011) cho thấy vai trò của mở rộng đào tạo sau đại học, 50% kinh phí nghiên cứu trường viện đến từ bên ngoài, luật hóa chức năng thứ ba (1997) và cho phép đại học sở hữu công ty nghiên cứu (1994).
  2. Nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Vụ Khoa học, Giáo dục – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1997) chỉ ra mức chi cho nghiên cứu trong các trường đại học tại Việt Nam còn rất thấp.
    • Lê Đình Tiến và Trần Chí Đức (2001) đánh giá giai đoạn 1985 – 1994 nhân lực R&D nhà nước giảm bình quân 10%/năm, lực lượng nghiên cứu tập trung ở trường viện, doanh nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ.
    • Kỷ yếu hội thảo quốc tế tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (12/2005) với các báo cáo của Vũ Cao Đàm, Hoàng Văn Luân, Mai Hà, Đào Thanh Trường, Trịnh Ngọc Thạch, Trương Quang Học tập trung vào năng lực R&D và mô hình đại học nghiên cứu.
    • Trần Xuân Định (2012) phân tích thực trạng đào tạo khoa học xã hội, đề xuất mô hình viện trong trường và cơ chế tự chủ.

Bảng tổng hợp các mốc văn bản thể chế thúc đẩy liên kết được tổng quan

Năm ban hành Văn bản pháp lý Nội dung tác động đến liên kết
1981 Quyết định 175/CP Quy định ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật
1983 Nghị quyết 51-HĐBT Thành lập quỹ phát triển KH&CN; chuyển một số viện công lập về trực thuộc doanh nghiệp
1992 Nghị định 35-HĐBT Cho phép tập thể, cá nhân thành lập tổ chức R&D, mở đầu cơ chế tự chủ nhân lực và tài chính
1993 Quyết định 324/CT Đẩy mạnh liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất
1999 Nghị định 119/1999/NĐ-CP Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho hợp đồng R&D, hỗ trợ sản xuất thử nghiệm
2000 Luật KH&CN năm 2000 Thể chế hóa các ưu đãi thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu cho R&D
2004 Quyết định 171/TTg Đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động liên kết đào tạo - nghiên cứu
2005 Nghị định 115/2005/NĐ-CP Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập
2006 Luật Chuyển giao công nghệ Thiết lập khung pháp lý cho thương mại hóa sáng chế và chuyển giao kỹ thuật
2008 Luật Công nghệ cao Quy định về quỹ đầu tư mạo hiểm và hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ đưa ra kiến nghị chính sách chung chung hoặc dừng lại ở việc áp dụng đơn lẻ mô hình đại học nghiên cứu mà chưa giải quyết cơ chế phối hợp thực chất giữa ba khu vực. Các chính sách kinh tế, thuế, tài chính chưa được kết nối đồng bộ với chính sách KH&CN. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực nghiệm các dòng chuyển giao tri thức và đề xuất mô hình liên kết trường – viện – doanh nghiệp có sự tham gia điều tiết của Nhà nước theo tiếp cận HTĐM phù hợp với điều kiện Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm công cụ

  • Đổi mới (Innovation): Kế thừa phân loại của Schumpeter (1911, 1934, 1939 gồm 5 loại: sản phẩm mới, quy trình mới, thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới, tổ chức mới), Edquist (1997), Ủy ban Châu Âu (2002), Nguyễn Mạnh Quân (2006) và OECD (2005 gồm 4 loại: sản phẩm, quy trình, tiếp thị, tổ chức), luận án xác lập định nghĩa: Đổi mới là tập hợp các hoạt động xã hội phức tạp nhằm tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến, thực hiện qui trình theo phương pháp mới hoặc áp dụng cách thức mới để đưa một sáng chế ra thị trường, đem lại lợi ích kinh tế.
  • Hệ thống đổi mới và Hệ thống đổi mới quốc gia: Tiếp cận hệ thống phủ định mô hình tuyến tính (R&D -> thiết kế -> chế tạo -> tiếp thị -> bán hàng). Luận án xác định HTĐMQG là tập hợp mạng lưới các yếu tố, tổ chức, chính sách và sự tương tác giữa chúng trong việc tạo ra, áp dụng và phổ biến tri thức mới. Luận án tiếp thu luận điểm của Vũ Cao Đàm về cấu trúc chức năng: $$\text{HTĐM} = \text{R&D} + \text{Đổi mới}$$ Trong đó, R&D chủ yếu do trường đại học và viện nghiên cứu đảm nhiệm, còn đổi mới diễn ra tại doanh nghiệp.
  • Chính sách đổi mới: Tiếp thu khái niệm của Stoneman (1987), Mowery (1992) và Haukness & Wicken (1999), bao gồm cả chính sách trực tiếp (công bố) và chính sách gián tiếp (ngầm định) như thuế, tín dụng, thương mại, đầu tư.

Tiếp cận nghiên cứu

Luận án kết hợp 6 hướng tiếp cận liên ngành:

  1. Tiếp cận quản lý: Nhận diện tác động của thể chế chính sách đối với hoạt động nghiên cứu và liên kết.
  2. Tiếp cận tâm lý học: Nhận diện thái độ, động lực của giảng viên, nghiên cứu viên trước các rào cản quản lý.
  3. Tiếp cận hệ thống và cấu trúc: Xem xét trường đại học và viện nghiên cứu là các phân hệ cấu thành của HTĐMQG.
  4. Tiếp cận nội quan và ngoại quan: Kết hợp đánh giá chủ quan của các chủ thể với dữ liệu khách quan từ báo cáo thực tế.
  5. Tiếp cận so sánh: Đánh giá ưu nhược điểm của các mô hình liên kết tuyến tính và phi tuyến tính.
  6. Tiếp cận hệ thống đổi mới: Vận dụng cấu trúc các dòng tri thức (nhân lực, kết quả R&D, thông tin) để phân tích thực trạng và thiết kế mô hình.

Phương pháp thu thập dữ liệu

  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN, số liệu tài chính, nhân lực của các trường đại học và viện nghiên cứu giai đoạn 2004 – 2015.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 12 cá nhân (4 nhà quản lý/giảng viên trường đại học, 4 nhà quản lý/nhà khoa học viện nghiên cứu, 4 giám đốc doanh nghiệp có hoạt động liên kết) nhằm thu thập thông tin định tính về động cơ và rào cản liên kết.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tổng hợp từ 193 phiếu khảo sát trực tiếp và kế thừa dữ liệu từ 104 doanh nghiệp.

Bảng cơ cấu mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án

Nhóm đối tượng Đơn vị khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu thu về hợp lệ Đặc điểm chọn mẫu
Trường đại học ĐHBKHN, HVNNVN, ĐHCN - ĐHQGHN, ĐHLĐXH 108 100 Mỗi trường 27 phiếu (2 quản lý, 25 giảng viên); ~1/4 Tiến sĩ, ~1/2 Thạc sĩ, ~1/4 Đại học
Viện nghiên cứu Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT 108 93 Mỗi viện 27 phiếu (1 quản lý, 26 nghiên cứu viên); ~1/4 Tiến sĩ, ~2/4 Thạc sĩ, ~1/4 Đại học
Doanh nghiệp Doanh nghiệp thuộc đề tài KX do PGS. Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm - 104 Doanh nghiệp quy mô nhỏ, vừa và lớn thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Tổng số mẫu 3 khu vực trong tam giác liên kết 216 297 Bao gồm 193 phiếu phát mới và 104 phiếu doanh nghiệp kế thừa
  • Phương pháp quan sát tự do: Khảo sát hiện trạng cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị công nghệ, vườn ươm, đất thực nghiệm tại các đơn vị nghiên cứu.
  • Phương pháp xử lý thông tin: Xử lý số liệu định lượng bằng thống kê mô tả; dữ liệu định tính được gỡ băng từ 12 biên bản phỏng vấn sâu để trích xuất nhận định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về HTĐM và mô hình liên kết ba bên. Tác giả phân tích các luận điểm về dòng tri thức của Freeman, Lundvall, Nelson và chỉ ra rằng phần lớn nghiên cứu quốc tế tập trung vào các nền kinh tế phát triển với thể chế thị trường hoàn chỉnh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Võ Hưng, Nguyễn Mạnh Quân, Trần Ngọc Ca, Đặng Duy Thịnh đã phác thảo các khía cạnh về thể chế và chính sách đầu tư cho R&D. Luận án xác định khoảng trống: các công trình trong nước chủ yếu dừng ở mức phân tích chính sách KH&CN chuyên ngành, thiếu sự gắn kết với chính sách tài chính, thuế và doanh nghiệp; chưa xây dựng được mô hình liên kết chi tiết dưới góc độ tiếp cận HTĐM có tính đến tính chất chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận hệ thống đổi mới

Nội dung chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết:

  • Làm rõ hệ khái niệm: đổi mới, HTĐM, HTĐMQG, chính sách đổi mới, tam giác liên kết, mô hình liên kết.
  • Phân tích tiến trình phát triển của mô hình liên kết: từ mô hình tuyến tính (Linear Model) sang mô hình tương tác và lý thuyết ba vòng xoắn (Triple Helix I, II, III). Luận án chỉ ra giới hạn của mô hình ba vòng xoắn khi áp dụng vào Việt Nam do nguy cơ "bẫy công nghệ" và sự thiếu hụt các doanh nghiệp dựa trên tri thức.
  • Tiếp cận HTĐM nhấn mạnh tính phi tuyến, sự tương tác học hỏi giữa các chủ thể và vai trò kiến tạo của Nhà nước. Luận án phân tích chức năng của các phân hệ trong HTĐMQG, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm hấp thụ và thương mại hóa, trường đại học và viện nghiên cứu là nguồn cung cấp tri thức nền tảng và nhân lực chuyên môn.

Chương 3: Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực nghiệm tại 4 trường đại học, 4 viện nghiên cứu và 104 doanh nghiệp thông qua các dòng liên kết:

  • Hoạt động liên kết của trường đại học: Khảo sát nguồn lực nhân lực và tài chính tại ĐHBKHN, HVNNVN, ĐHCN và ĐHLĐXH (dẫn liệu tài chính KH&CN ĐHBKHN 2011 – 2015, cơ cấu nhân lực tại HVNNVN). Mức độ hợp tác trong nghiên cứu khoa học cơ bản còn mang tính nội bộ; hợp tác phát triển công nghệ và dịch vụ KH&CN với doanh nghiệp còn thấp. Các nguồn thông tin nghiên cứu chủ yếu dựa vào sách báo, tạp chí chuyên ngành thay vì xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
  • Hoạt động liên kết của viện nghiên cứu: Đánh giá số nhân lực KH&CN theo trình độ học vấn tại Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT; thống kê kết quả tham gia đào tạo giai đoạn 2006 – 2012. Kết quả chỉ ra các viện trực thuộc trường (như Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP) có sự gắn kết tốt về đào tạo nhưng hạn chế về nguồn vốn tự chủ; trong khi Viện IMI tự chủ theo mô hình doanh nghiệp KH&CN có khả năng thương mại hóa cao hơn. Mức độ hợp tác phát triển công nghệ của các viện với doanh nghiệp còn rời rạc.
  • Hoạt động liên kết của doanh nghiệp: Phân tích cơ cấu nhân sự R&D phân theo quy mô doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn (dựa trên mẫu 104 doanh nghiệp). Tỷ lệ sản phẩm, quy trình mới hình thành từ kết quả nghiên cứu của trường, viện chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng sản phẩm doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ yếu tiếp nhận công nghệ qua việc mua sắm máy móc thiết bị nhập khẩu hoặc tự cải tiến nội bộ.

Bảng các nhóm chỉ báo đánh giá thực trạng liên kết trong luận án

Dòng tri thức liên kết Chỉ báo khảo sát tại trường đại học Chỉ báo khảo sát tại viện nghiên cứu Chỉ báo khảo sát tại doanh nghiệp
Trao đổi nhân lực Giảng viên tham gia đề tài tại doanh nghiệp; cán bộ doanh nghiệp thỉnh giảng Nhà khoa học tham gia giảng dạy sau đại học; đào tạo cán bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp Nhân lực R&D có trình độ sau đại học; thuê chuyên gia trường viện tư vấn kỹ thuật
Chuyển giao kết quả R&D Số hợp đồng nghiên cứu theo đơn đặt hàng; chuyển giao bản quyền, sáng chế Doanh thu dịch vụ KH&CN; số công nghệ chuyển giao vào sản xuất Tỷ lệ sản phẩm mới từ đề tài trường viện; chi phí mua bản quyền công nghệ
Trao đổi thông tin Nguồn thông tin xác định nhiệm vụ KH&CN; hội thảo chuyên môn chung Kênh chia sẻ kết quả thử nghiệm; xếp hạng nguồn tham khảo KH&CN Nguồn thông tin nhận biết công nghệ mới; hình thức tư vấn kỹ thuật sử dụng

Chương 4: Đề xuất mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân cản trở (thiếu hành lang pháp lý bảo vệ SHTT, thiếu vốn mạo hiểm, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp yếu, cơ chế tài chính công ràng buộc trường viện), tác giả đề xuất:

  • Thiết kế mô hình liên kết mới có sự điều tiết của Chính phủ theo tiếp cận HTĐM (Hình 4.1, trang 131 của luận án): Mô hình đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của hoạt động đổi mới. Trường đại học và viện nghiên cứu đóng vai trò cung cấp tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực. Chính phủ điều tiết gián tiếp thông qua các công cụ chính sách: quỹ phát triển KH&CN, hỗ trợ thuế, bảo hộ SHTT và các dự án hợp tác công - tư (PPP).
  • Đề xuất hai nhóm giải pháp:
    • Nhóm giải pháp chung: Hoàn thiện thể chế chính sách kinh tế - KH&CN đồng bộ, phát triển thị trường KH&CN, hình thành các tổ chức trung gian và quỹ đầu tư mạo hiểm.
    • Nhóm giải pháp cụ thể cho từng phân hệ: Đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ gắn với đại học nghiên cứu; chuyển đổi các viện nghiên cứu công lập sang cơ chế doanh nghiệp KH&CN; ban hành chính sách ưu đãi tài chính và thuế đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp thành lập quỹ R&D nội bộ và đặt hàng nghiên cứu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm rõ nội hàm khái niệm đổi mới dưới góc độ quản lý KH&CN, khẳng định đổi mới là một quá trình kinh tế - xã hội phức tạp nhằm đưa sáng chế ra thị trường tạo giá trị kinh tế bền vững.
  2. Vận dụng và làm rõ tiếp cận HTĐM tại Việt Nam: xác định rõ mối quan hệ cấu trúc giữa R&D (trường, viện) và Đổi mới (doanh nghiệp), khẳng định tính phi tuyến và vai trò điều phối của thể chế phi thị trường.
  3. Phân tích tiến trình phát triển và tính bất định, xác suất hình thành các mối liên kết trong tam giác nghiên cứu – đào tạo – sản xuất qua các thời kỳ lịch sử.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp tại Hà Nội giai đoạn 2014 – 2018 qua ba dòng tri thức (nhân lực, kết quả nghiên cứu, thông tin) với dữ liệu từ 4 trường, 4 viện và 104 doanh nghiệp.
  2. Chỉ ra các rào cản cốt lõi khiến liên kết lỏng lẻo: thiếu cơ chế định giá tài sản vô hình, thời gian thương mại hóa kéo dài (7 - 12 năm), tâm lý e ngại rủi ro của doanh nghiệp và thủ tục thanh quyết toán tài chính nghiên cứu công còn nặng tính hành chính.
  3. Đề xuất mô hình liên kết trường – viện – doanh nghiệp có sự điều tiết của Chính phủ theo tiếp cận HTĐM.

Bảng tổng hợp các giải pháp vận hành mô hình liên kết

Phân hệ trong mô hình Mục tiêu giải pháp Các biện pháp kỹ thuật và cơ chế cụ thể
Phân hệ Quản lý Nhà nước Tạo lập môi trường thể chế thuận lợi và chia sẻ rủi ro Hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu trí tuệ; đơn giản hóa thủ tục thành lập quỹ đổi mới công nghệ; áp dụng cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong các dự án thử nghiệm lớn
Phân hệ Doanh nghiệp Nâng cao năng lực hấp thụ và chủ động đặt hàng Trích lập quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp theo luật định; tham gia góp vốn ươm tạo công nghệ tại trường viện; xây dựng bộ phận chuyên trách R&D
Phân hệ Trường đại học Chuyển dịch chức năng gắn với nghiên cứu ứng dụng Thành lập văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO); ban hành quy chế phân chia lợi nhuận từ li-xăng sáng chế cho giảng viên; gắn chỉ tiêu nghiên cứu với đánh giá nhân sự
Phân hệ Viện nghiên cứu Tự chủ tài chính và thương mại hóa sản phẩm Chuyển đổi mô hình hoạt động sang doanh nghiệp KH&CN (theo hướng Viện IMI); thành lập liên doanh nghiên cứu với doanh nghiệp; đẩy mạnh dịch vụ thử nghiệm, đo kiểm chuẩn

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian và đối tượng: Khảo sát thực địa mới tập trung trên địa bàn Hà Nội với 4 trường đại học công lập và 4 viện nghiên cứu đại diện cho một số khối ngành (kỹ thuật, nông nghiệp, công nghệ, khoa học xã hội). Chưa bao quát được các cơ sở đào tạo ngoài công lập, các trường viện tại khu vực phía Nam cũng như các viện thuộc khối doanh nghiệp tư nhân.
  • Hạn chế về dữ liệu doanh nghiệp: Dữ liệu về doanh nghiệp kế thừa từ đề tài điều tra KX của người hướng dẫn khoa học với quy mô 104 doanh nghiệp, do đó tính đại diện cho toàn bộ các ngành kinh tế còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát liên kết ở quy mô hệ thống đổi mới vùng (Regional Innovation System - RIS) và hệ thống đổi mới ngành (Sectoral Innovation System - SIS); lượng hóa chi tiết hơn các dòng lưu chuyển tài chính phục vụ đổi mới sáng tạo giữa ba khu vực; xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế của các văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) tại các đại học tự chủ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực quản lý khoa học, công nghệ và chính sách công:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi các quy định về quản lý nhiệm vụ KH&CN, tháo gỡ vướng mắc trong việc chuyển đổi tổ chức nghiên cứu theo cơ chế tự chủ, thiết kế chính sách ưu đãi thuế thực chất cho doanh nghiệp đầu tư R&D.
  • Đối với lãnh đạo các trường đại học và viện nghiên cứu: Tham khảo mô hình tổ chức văn phòng chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm thành lập doanh nghiệp trong trường đại học, phương thức quản lý sở hữu trí tuệ và cơ chế phân phối lợi ích nhằm thúc đẩy giảng viên, nghiên cứu viên tham gia ứng dụng thực tiễn.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản lý KH&CN, Chính sách công: Khung phân tích các dòng tri thức trong HTĐMQG và phương pháp kết hợp định tính - định lượng là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về đổi mới sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bản chất của mô hình liên kết theo tiếp cận hệ thống đổi mới khác gì so với mô hình tuyến tính truyền thống?

Mô hình tuyến tính truyền thống giả định quá trình phát triển công nghệ đi theo một chiều tuần tự: Nghiên cứu cơ bản -> Nghiên cứu ứng dụng -> Triển khai thực nghiệm -> Sản xuất -> Tiếp thị ra thị trường. Ngược lại, tiếp cận hệ thống đổi mới khẳng định quá trình này là phi tuyến tính, diễn ra thông qua sự tương tác và học hỏi đa chiều giữa các chủ thể. Đổi mới không nhất thiết phải bắt đầu từ R&D hàn lâm mà có thể khởi nguồn từ nhu cầu thị trường của doanh nghiệp hoặc từ việc khai thác, cải tiến các tri thức công nghệ sẵn có.

2. Vì sao tác giả cho rằng mô hình ba vòng xoắn (Triple Helix) chưa hoàn toàn phù hợp với bối cảnh Việt Nam?

Lý thuyết ba vòng xoắn đặt vai trò của trường đại học ngang hàng với chính phủ và doanh nghiệp, nhấn mạnh mô hình đại học kinh thương. Tuy nhiên, tại Việt Nam, phần lớn trường đại học chưa đạt mức tự chủ thực chất, năng lực nghiên cứu phát triển còn yếu và nguồn vốn hạn chế. Việc áp dụng cứng nhắc mô hình này dễ dẫn đến "bẫy công nghệ" và nguy cơ độc quyền công nghệ khi trường viện chưa đủ năng lực tự thân vận hành trên thị trường. Do đó, luận án đề xuất mô hình tiếp cận HTĐM nhưng có sự điều chỉnh, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm hấp thụ và Chính phủ giữ vai trò điều tiết, hỗ trợ khung thể chế.

3. Khảo sát thực tế trong luận án chỉ ra các nguồn thông tin nghiên cứu của trường đại học và viện nghiên cứu hiện nay xuất phát từ đâu?

Kết quả điều tra thực nghiệm (được phản ánh qua các Bảng xếp hạng nguồn thông tin của trường và viện trong Chương 3) cho thấy nguồn thông tin chủ yếu mà giảng viên và nhà nghiên cứu sử dụng đến từ sách báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, hội thảo khoa học và báo cáo đề tài nội bộ. Tỷ lệ thông tin thu nhận trực tiếp từ đơn đặt hàng, khảo sát nhu cầu kỹ thuật hoặc vướng mắc sản xuất thực tiễn của doanh nghiệp chiếm vị trí rất thấp.

4. Luận án đề xuất những giải pháp cụ thể nào nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học?

Luận án chỉ ra ba biện pháp trọng tâm: thứ nhất, thành lập và chuyên nghiệp hóa hoạt động của các văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) có chức năng đại diện pháp lý để thương thảo hợp đồng và li-xăng sáng chế; thứ hai, hoàn thiện quy chế nội bộ về sở hữu trí tuệ, trong đó quy định rõ ràng tỷ lệ phân chia doanh thu thương mại hóa cho tác giả sáng chế; thứ ba, trao quyền tự chủ toàn diện kết hợp với việc xây dựng mô hình đại học định hướng nghiên cứu nhằm gắn chặt hoạt động giảng dạy với triển khai thực nghiệm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống đổi mới và phân tích thực trạng các mối liên kết trong tam giác trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát 193 cán bộ, nhà khoa học tại 8 đơn vị nghiên cứu đào tạo và 104 doanh nghiệp, công trình đã xác định các rào cản thể chế, tài chính và cơ chế vận hành thị trường KH&CN. Mô hình liên kết có sự điều tiết của Chính phủ theo tiếp cận hệ thống đổi mới cùng hệ thống giải pháp phân hệ được đề xuất là đóng góp phục vụ công tác hoàn thiện chính sách KH&CN và giáo dục đại học tại Việt Nam.