ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc coi là một trong những Quốc gia có khu hệ thú linh trƣởng đa dạng trên thế giới theo phân loại của Groves (2004) thú linh trƣởng Việt Nam gồm 24 loài và phân loài, thuộc 3 họ đó là họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Ceropithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae). Trong đó có 4 loài đặc hữu là Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus) và Voọc gáy trắng (Trachypithecus hatinhensis). Ngoài ra, Việt Nam có tới 5 loài linh trƣởng trong danh sách 25 loài linh trƣởng nguy cấp nhất thế giới hiện nay, đó là Voọc mông trắng, Voọc mũi hếch, chà vá chân xám, Vƣợn Cao Vít và Voọc đầu vàng (Schwitzer et al. Ngày nay do sự săn bắn, phá hủy sinh cảnh và buôn bán trái phép là những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm quần thể các loài linh trƣởng tại Việt Nam.
Tất cả các loài thú linh trƣởng ở nƣớc ta đều có tình trạng sắp nguy cấp đến nguy cấp. Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) trong số 24 loài và phân loài hiện biết ở Việt Nam, có 4 loài trong tình trạng “Cực kỳ nguy cấp” (CR) và 8 loài ở tình trạng “Nguy Cấp” (EN), nhiều loài trong số này đang đứng trƣớc bờ vực của sự tuyệt chủng. Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) ở Việt Nam có khoảng 300 cá thể Voọc đen má trắng (Nader et al. Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi là loài linh trƣởng quý hiếm, chỉ phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam (IUCN,2017).
Tại Việt Nam, loài này phân bố hẹp trong Vùng Đông Bắc. Theo Sách Đỏ thế giới (IUCN, 2017) xếp loài ở cấp độ nguy cấp EN còn Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp loài ở cấp EN. Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs), là phƣơng pháp xác định các khu vực có điều kiện thích hợp cho các loài và là một mô hình ngày càng phổ biến trong nghiên cứu bảo tồn. ENMs sử dụng mối quan hệ giữa các điểm có mặt hoặc vắng mặt và các biến môi trƣờng để dự đoán khu vực nơi mà các loài có thể tồn 1 tại.
ENMs có thể giúp xác định sinh cảnh, khu vực thích hợp cho một loài sinh sống (Pearson, 2008; Peterson et al 2007). Ngoài ra, ENMs còn hỗ trợ đánh giá sự thay đổi vùng phân bố của loài trong khoảng thời gian nhất định dựa trên các kịch bản về điều kiện môi trƣờng (Raxworthy et al. Hiện nay, các nghiên cứu về loài Voọc đen má trắng ở Việt Nam vẫn đang còn ít chủ yếu tập trung nghiên cứu vào kích thƣớc quần thể và cũng nhƣ các đặc điểm sinh thái của chúng. Vì vậy để xác định đƣợc vùng phân bố trọng điểm cho loài tôi đƣa ra đề tài: “Mô hình hóa vùng phân bố tiềm năng của loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) phục vụ công tác bảo tồn”.
Từ đó để đƣa ra đƣợc những vùng phân bố trọng điểm ƣu tiên bảo vệ loài Voọc đen má trắng một cách tốt nhất. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về bộ Linh trƣởng (Primates) tại Việt Nam 1.1 Đặc điểm chung của bộ Linh Trưởng (Primates) Bộ Linh trƣởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ gồm những loài thú có đời sống chủ yếu trên cây, đi bằng cả hai chân, ăn tạp hay ăn thực vật. Tứ chi thích nghi với việc cầm nắm và leo trèo. Xƣơng cẳng tay, xƣơng cánh tay khớp động với xƣơng bả vai và có thể xoay quanh trục của nó.
Bàn tay có 5 ngón, có ngón cái nằm đối diện với các ngón còn lại. Hệ xƣơng đai ngực luôn có xƣơng đòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trƣớc, một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo này nên chi trƣớc giảm đi đáng kể vai trò nâng đỡ cơ trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn. Thân chuyển dần tƣ thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não.
Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm theo chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống. Hai hố mắt gần nhau, mắt hƣớng về trƣớc tạo kiểu nhìn lƣỡng hình. Mũi ngắn; Thể tích hộp sọ tƣơng đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ.
Tăng thể tích não bộ đặc điểm rất tiến hóa của bộ thú linh trƣởng. Răng thú Linh trƣởng có 2 loại: Răng sữa và răng chính thức (difiodonte). Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù và nhiều mấu. Cấu tạo của bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhƣng tiên về thực vật (quả, lá).
Số lƣợng răng của các loài Linh trƣởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc. Thú linh trƣởng ở con đực có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng. Con cái có một đôi vú phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng. Nhau của linh trƣởng thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm lemur và rụng ở các loài khác.
Thời gian mang thai dài, thƣờng đẻ một con. Con non đẻ ra yếu thời gia bú sữa dài. Phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về linh trƣởng ở Việt Nam và đƣa ra nhiều quan điểm phân loại thú linh trƣởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và rất khác nhau giữa các tác giả. Phân loại thú linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Số loài và phân Năm Họ Nguồn thông tin loài 2001 3 24 Groves (2001) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) 2007 3 25 Roos et al.
Blair et al., (2011) 2012 3 25 Tilo Nadler (2010) 2013 3 25 Roos et al., (2013) 2014 3 25 Roos et al.1 cho ta thấy rõ đƣợc các quan điểm phân chia thú linh trƣởng của các tác giả là khác nhau, theo Groves (2001), Roos (2004) và Groves (2004) thì thú linh trƣởng ở Việt Nam gồm 24 loài và phân loài, thuộc 3 họ. Tuy nhiên đến năm 2007, theo phân loại của Roos et al., (2007) thì có 25 loài và phân loài, thuộc 3 họ. Dựa trên phân tích những khác nhau về âm học tiếng hót và gen, Văn Ngọc Thịnh et al., (2010) đã mô tả và công bố một loài mới mới với tên gọi đầy đủ là Vƣợn đen má hung trung bộ với tên khoa học là Nomascus annamensis (Van Ngoc Thinh et al. Từ đây sẽ bổ sung thêm 1 loài Linh trƣởng mới cho Việt Nam.
Trong khi đó Marye Blair et al., (2011) đã tổng hợp hệ thống phân loại thú linh trƣởng thì đã cho rằng thú linh trƣởng ở Việt Nam bao gồm 26 loài và phân loài thuộc 3 họ. Hai loài mới đƣợc xác định so với hệ thống phân lọai trƣớc 4 đó là Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis), (Albuja et al., 1996) và Vƣợn má hung Trung bộ (Nomascus annamensis), (Van Ngoc Thinh et al. Theo Roos et al., (2013), thì Khu hệ thú Linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Mới đây nhất là theo phân loại Linh trƣởng Châu Á của Roos et al., (2014), thì khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ.
Hệ thống phân loại này dựa trên cơ sở phân loại của chính tác giả năm 2004 (phân loại đã đƣợc các nhà khoa học chấp nhận và sử dụng trong thời gian dài) và bổ sung thêm loài mới là Vƣợn má hung Trung bộ (Nomascus annamensis), Van Ngoc Thinh et al. So với hệ thống phân loại của Blair et al., (2011) thì hệ thống phân loại này không có Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis) (Albuja et al. Các nhà khoa học đều nhận định và cho rằng, Khỉ đuôi dài côn đảo chỉ là một phân loài của Khỉ đuôi dài. Qua các quan điểm phân loại trên có thể thấy rằng, hệ thống phân loại của Roos et al., (2014), đƣợc cập nhật phản ánh một cách đầy đủ nhất và hoàn chỉnh nhất trong tất cả các hệ thống phân loại học của thú Linh trƣởng Việt Nam.
Tuy có sự khác nhau về số loài và phân loài, nhƣng các tác giả đều thống nhất chỉ có 3 họ chính đó là họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae). Bảng phân loại khu hệ thú Linh trƣởng ở Việt Nam STT Tên loài Phổ thông Khoa học I Họ Cu li Loricidae 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus II Họ Khỉ Cercopithecidae 3 Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis III Họ Voọc Colobinae 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus margsarita 10 Voọc bạc Đông Dƣơng Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu vàng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus IV Họ Vƣợn Hylobatidae 20 Vƣợn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vƣợn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vƣợn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vƣợn siki Nomascus siki 24 Vƣợn má hung Nomascus gabriellae 25 Vƣợn má hung Trung bộ Nomascus annamensis Nguồn: Roos et al. Tình hình nghiên cứu thú linh trƣởng ở Việt Nam Tình hình nghiên cứu linh trƣởng ở Việt Nam đƣợc bắt đầu rất sớm và phát triển rất nhanh theo từng thời kỳ song song với những nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và nhóm thú nói riêng. Những nghiên cứu đó đƣợc bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chủ yếu do các tác giả nƣớc ngoài thực hiện.
Các nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiện cứu đa dạng sinh học trong đó có linh trƣởng từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây. Nói chung hầu hết các nghiên cứu về linh trƣởng ở Việt Nam đều tập trung và nghiên cứu thành phần loài, số lƣợng và phân bố. Thú linh trƣởng việt Nam đa dạng về thành phần loài (25 loài và phân loài, thuộc 3 họ) và có nhiều yếu tố đặc hữu (Voọc mũi hếch, Voọc đầu vàng, Voọc mông trắng), (Phạm Nhật, 2002). Phạm Nhật đƣợc xem là một trong những ngƣời đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Linh trƣởng và cũng là chuyên gia hàng đầu về linh trƣởng của Việt Nam.
Nghiên cứu của ông là nghiên cứu thể hiện một cách đầy đủ và chính xách nhất về các loài Linh trƣởng. Ông đã mô tả đƣợc đặc điểm hình thái, sinh thái và tập tính của các loài linh trƣởng ở Việt Nam. Chỉ ra đƣợc các mối đe dọa và các phƣơng pháp bảo tồn đối với Linh trƣởng.