ĐẶT VẤN ĐỀ Khu vực Đông Nam Á là một trong các khu vực có số lƣợng các loài thú cao nhất trên giới, nhƣng phần lớn các loài thú đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng (Sodhi và cs, 2009). Chính vì vậy, khu vực này cần phải có các chiến lƣợc, kế hoạch bảo tồn một cách thích hợp để giải quyết đƣợc vấn đề trên. Hiểu biết về vùng phân bố là cơ sở nền tảng cho việc quản lý và bảo tồn các loài (Nazeri và cs. Trong đó, mô hình hóa vùng phân bố bằng mô hình ổ sinh thái là một công cụ có thể sử dụng để dự đoán vùng phân bố của chúng (Nazeri và cs.
Xác định đƣợc vùng phân bố của một loài là một trong các chìa khóa để thực hiện bảo tồn thành công cho các loài động vật hoang dã. Hiện nay, các mô hình ổ sinh thái đƣợc ứng dụng trong dự đoán vùng phân bố cho nhiều loài động vật hoang dã, từ các loài động vật, thực vật trên cạn, đến các loài sinh vật sống ở môi trƣờng nƣớc (Elith và Leathwick. Mô hình ổ sinh thái thƣờng đƣợc sử dụng bởi các mục đích sau: (1) đánh giá/ƣớc tính các khu vực có điều kiện thích hợp với loài; (2) đánh giá sự thay đổi vùng phân bố của loài trong khoảng thời gian nhất định dựa trên các kịch bản về sự thay đổi điều kiện môi trƣờng; (3) đánh giá các ổ sinh thái hay các yêu cầu sinh thái của các loài (Warren và Seifert, 2011). Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) là một trong ba loài thuộc giống Chà vá đƣợc ghi nhận ở khu vực Đông Dƣơng (Nadler và cs.
Hiện nay, quần thể Chà vá chân nâu chủ yếu phân bố ở Lào và Việt Nam (Vũ Ngọc Thành và cs. Gần đây một số đàn khác đƣợc ghi nhận tại Campuchia (Rawson và Roos. Tuy nhiên, quần thể loài Chà vá chân nâu đang bị suy giảm nghiêm trọng (Nadler và cs. 2003; Vũ Ngọc Thanh và cs.,2008; Coudrat và cs., 2012) bởi các nguyên nhân chủ yếu là do săn bắn cũng nhƣ là mất sinh cảnh sống.
Trong sách đỏ Việt Nam (2007) và sách đỏ IUCN (2017), Chà vá chân nâu đƣợc xếp ở mức Nguy cấp (EN). Đặc biệt, chúng cũng là một trong các loài đƣợc pháp luật bảo vệ thông qua các nghị định 32/2016 và nghị định 160/2013 của chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, hiểu biết của chúng ta về loài Chà vá chân 1 nâu là còn rất hạn chế, đặc biệt là về vùng phân bố của chúng. Do vậy, một nghiên cứu về phân bố tiềm năng của loài Chà vá chân nâu là rất quan trọng và cần thiết.
Từ đó, chúng ta có thể thiết kế các chƣơng trình nghiên cứu điều tra thực địa để tìm kiếm nhằm phát hiện các tiểu quần thể mới của loài Chà vá chân nâu. Đồng thời, đây sẽ là cơ sở để thực hiện các nỗ lực trong việc nghiên cứu và bảo tồn loài linh trƣởng quý hiếm này. Đề tài “Mô hình hóa vùng phân bố tiềm năng của loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) phục vụ công tác bảo tồn” đƣợc thực hiện với mong muốn đƣợc góp phần nghiên cứu và bảo tồn loài Chà vá chân nâu. Số liệu thu thập đƣợc và kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung thêm thông tin về đặc điểm sinh thái và tập tính của loài, là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đƣa ra các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển loài Linh trƣởng quý hiếm này ở Việt Nam.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú Linh trƣởng ở Việt Nam. Theo hệ thống phân loại của (Brandon-Jone và vs.,2004), khu hệ thú linh trƣởng Việt Nam có 24 loài và phân loài thuộc 3 họ là: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vƣợn (Hylobatidae) (Brandon-Jone và cs. Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài Linh trƣởng thuộc 3 họ.
Trong đó có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam gồm: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus dela- couri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Chà vá chân xám (Py- gathrix cinerea), phân loài Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis con- dorensis), Vƣợn Đen Cao Vít (Nomascus nasutus). Hệ thống phân loại Thú Linh trƣởng của theo Groves đƣợc trình bày cụ thể trong bảng 1.1 (Nadler và cs.1: Phân loại khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam theo Groves (2004) Tên loài STT Tên khoa học Tên phổ thông I Loridae Họ Cu li 1 Nycticebus bengalensis Cu li lớn 2 Nycticebus pygmaeus Cu li nhỏ II Cercopithecidae Họ Khỉ IIa Cercopithecinae Phân họ Khỉ 3 Macaca arctoides Khỉ cộc 4 Macaca assamensis Khỉ mốc 5 Macaca leonine Khỉ đuôi lợn 6 Macaca mulatta Khỉ vàng 7 Macaca fascicularis Khỉ đuôi dài IIb Colobinae Phân họ Voọc 3 IIb1 Trachypithecus Chi Voọc 8 Trachypithecus crepusculus Voọc xám 9 Trachypithecus obscures Voọc bạc 10 Trachypithecus germaini Voọc géc manh 11 Trachypithecus francoisi Voọc đen má trắng 12 Trachypithecus poliocephalus Voọc đầu vàng 13 Trachypithecus hatinhensis Voọc Hà tĩnh 14 Trachypithecus ebenus Voọc đen tuyền 15 Trachypithecus delacouri Voọc mông trắng IIb2 Rhinopithecus Chi Voọc mũi hếch 16 Rhinopithecus avunculus Voọc mũi hếch IIb3 Pygathrix Chi Chà vá 17 Pygathrix nemaeus Chà vá chân nâu 18 Pygathrix nigripes Chà vá chân đen 19 Pygathrix cinereal Chà vá chân xám III Hylobatidae Họ Vƣợn 20 Nomascus concolor Vƣợn đen tuyền 21 Nomascus nasutus Vƣợn đen Hải Nam 22 Nomascus leucogenys Vƣợn đen má trắng 23 Nomascus siki Vƣợn siki 24 Nomascus gabriellae Vƣợn má hung Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trƣởng Đông Dƣơng của Roos và cs., (2007) thì Khu hệ thú linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Tuy có sự khác nhau về số lƣợng loài và phân loài nhƣng nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh Trƣởng ở Việt Nam có 3 họ chính là họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vƣợn (Hylobatidae). Một số đặc điểm của giống Pygathrix 1.
Hệ thống phân loại và phát sinh giống Pygathrix. Trong bộ Linh trƣởng Loài Voọc Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) là một trong ba phân loại của Giống Chà vá (Pygathrix). Đây là loài thú thuộc nguồn gen quý hiếm và đang trên con đƣờng tuyệt chủng do các hoạt động phát triển của con ngƣời ở Việt Nam. Loài này thuộc danh mục nhóm IIB ở mức nguy cấp (EN) trong sách đỏ Việt Nam và tổ chức bảo tồn thiên nhiên.
CITES Giống Chà vá hay Giống Voọc vá là tên gọi trong tiếng việt để chỉ các loài trong Giống Pygathrix. Giống này theo CITES kể từ ngày 10 tháng 7 năm 2006 chỉ chứa ba loài. Các tên gọi dùng chung cho ba loài này là Voọc Vá, Voọc Chà vá, Voọc Linh, Khỉ chú lính (cách gọi của ngƣời Tày), dộc (cách gọi của ngƣời Mƣờng), Elơva (cách gọi của ngƣời Ê Đê). Các loài khỉ trong phân họ Colobinae này có bề ngoài khá sặc sỡ.
Chà vá chân nâu có hai chân với màu nâu đỏ sáng đặc trƣng (từ đầu gối tới mắt cá chân) cùng các vệt đỏ quanh mắt. Ngƣợc lại, Chà vá chân xám trông ít sức sống hơn, với các chân có màu xám lốm đốm và mặt màu vàng da cam. Cả hai đều có thân màu xám lốm đốm, lông trên tay và bàn chân màu đen và má màu trắng, mặc dù các lông trên má của Chà vá chân nâu dài hơn của Chà vá chân xám. Chà vá chân đen có màu lông trên toàn bộ chân màu đen.
Hai chân và đuôi dài cho phép chúng trở thành những động vật rất nhanh nhẹn trên các cành và ngọn cây, là nơi sinh sống của chúng. Mặc dù chúng còn đƣợc gọi là "Voọc chà vá", nhƣng trên thực tế chúng có quan hệ họ hàng gần gũi với các loài khỉ mũi dài và Voọc mũi hếch, hơn là với các loài Voọc thực sự. Giống Chà vá (Pygathrix) có 3 loài đặc trƣng: Chà vá chân xám: Pygathrix cinerea Chà vá chân đỏ (hay chân nâu): Pygathrix nemaeus Chà vá chân đen: Pygathrix nigripes Các loài trong Giống Pygathrix chủ yếu là ăn lá. Lá là bộ phận thức ăn chiếm khoảng 60% đến 80% trong thành phần thức ăn của chúng.
Còn lại là các loại thức ăn khác nhƣ măng, hoa, quả và vỏ cây. Một số đặc điểm hình thái và sinh thái của Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus).1: Loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) (Nguồn: Danang sense travel.com) - Đặc điểm hình thái của loài Chà vá chân nâu: + Có màu sắc rực rỡ nhất trong các loài Linh trƣởng + Chúng còn đƣợc biết đến với tên "Voọc ngũ sắc" cũng bởi vẻ ngoài độc đáo này. + Từ đầu gối đến mắt cá chân của Voọc Chà chân nâu (Chà vá chân đỏ) giống nhƣ “đôi tất dài màu nâu đỏ”, cẳng tay trƣớc của chúng nhƣ đƣợc phủ một lớp găng tay trắng vậy. Nhƣng bàn tay và đôi chân thì lại có màu đen.
Vọoc Chà vá chân nâu có vành râu quai nón màu trắng và thƣờng của con đực sẽ rậm rạp hơn. Mí mắt của chúng màu xanh dƣơng nhẹ. Đuôi trắng và có cụm lông trắng ở phía cuối. Con đực ở mọi lứa tuổi đều có mảng trắng ở hai bên mông và bộ phận sinh dục màu đỏ và trắng.
- Đặc điểm sinh thái: + Chà vá chân nâu sinh hoạt vào ban ngày, ăn và ngủ trên cây trong rừng. Thức ăn của chúng chủ yếu bao gồm lá cây nhiều chất xơ. Thuộc phân loài Colobinae hay loài khỉ ăn lá. Chà vá chân nâu thích ăn những lá non, nhỏ và 6 mềm nhƣng cũng thích hoa quả nhƣ quả sung, nụ, cuống lá, hoa và hạt.
Loài khỉ này ăn tới 50 loại thực vật khác nhau nhƣng không ăn thịt loài động vật nào. - Tập tính: thích sống bầy đàn. Chúng sống trong nhóm từ 4 đến 15 con nhƣng đã từng ghi lại đƣợc nhóm lên tới 50 con. Một nhóm thƣờng có một hoặc vài con đực và trung bình sẽ có hai con cái nếu có một con đực.
Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn và con đực thƣờng có vị trí cao hơn con cái. Cả con đực và con cái cuối cùng rồi sẽ rời khỏi đàn nơi chúng đƣợc sinh ra. - Phân bố của loài Voọc Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus): Quần thể Voọc Chà vá chân nâu phân bố ở sinh cảnh rừng lá rộng thƣờng xanh mƣa mùa nhiệt đới (52,17%) và sinh cảnh rừng phục hồi (28,26%). Các loài Voọc Chà vá chân nâu phân bố ở khắp các khu vực rừng mƣa nhiệt đới Đông Nam Á.
Vào các mùa mƣa (tháng 9,10,11,12): quần thể Voọc Chà vá chân nâu tại khu BTTN sơn Trà phân bố chủ yếu ở sinh cảnh rừng lá rộng thƣờng xanh mƣa nhiệt đới. Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) nay sinh sống ở khu vực bắc Trƣờng Sơn của Việt Nam (địa bàn gồm từ Nghệ An xuống Kontum) và nƣớc Lào.