MỞ ĐẦU Phát triển công nghiệp mạnh mẽ đã làm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời. Bên cạnh những thành tựu vƣợt bậc về nâng cao sản lƣợng và năng suất lao động, việc phát triển công nghiệp cũng đã gây ra những hậu quả về môi trƣờng, làm suy thoái môi trƣờng. Đó là một trong những lý do mà nền kinh tế công nghiệp hóa đang có xu hƣớng bị phủ định bởi nền kinh tế sinh thái hiện đại. Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tƣơng đối phổ biến và đƣợc phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp. Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nƣớc ta là một nƣớc có nền nông nghiệp lâu đời với khoảng 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn và nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều chƣơng trình chính sách nhằm đầu tƣ phát triển đời sống ngƣời dân khu vực nông thôn nhƣ chƣơng trình 661- trồng 5 triệu ha rừng, chƣơng trình 325, mô hình phát triển kinh tế của các đề tài khoa học…. Tuy nhiên, sự phát triển hệ kinh tế nông hộ vẫn còn hạn chế, đặc biệt là vùng Đông Bắc còn nhiều bế tắc về phƣơng thức đầu tƣ sản xuất, thiếu kinh nghiệm về kỹ thuật trồng rừng, canh tác, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Do đó, việc tìm ra giải pháp đầu tƣ phát triển hợp lý cho hệ kinh tế nông hộ của cả nƣớc nói chung và vùng Đông Bắc Việt Nam nói riêng là rất cần thiết và cấp bách. Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ nằm trong địa phận xã An Lạc, huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc trƣng của vùng Đông Bắc Việt Nam và là khu vực tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, đời sống kinh tế ngƣời dân vùng này còn thấp và phƣơng thức sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp [1]. Mô hình sản xuất của ngƣời dân vùng này chủ yếu gồm các yếu tố sau: 1.
gia súc, gia cầm; 4. Cây nông nghiệp (hoa màu và lúa nƣớc). Nhìn chung, hệ thống hệ kinh tế sinh thái của các hộ gia đình vùng này về cơ bản là tƣơng đối đầy đủ, tuy nhiên sự tƣơng tác, liên kết giữa các yếu tố trên nhƣ thế nào để đem lại hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình nơi đây thì 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ và sâu. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu phân tích sự tƣơng tác của các yếu tố của hệ thống hệ kinh tế sinh thái của các hộ gia đình tại khu vực bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, đồng thời trên cơ sở đó đề xuất các phƣơng án đầu tƣ hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ gia đình là rất cần thiết.
Có thể nói việc sử dụng mô hình toán trong một số lĩnh vực nghiên cứu nhƣ hệ sinh thái rừng, môi trƣờng,.đã đƣợc tiến hành trên thế giới từ lâu, kể cả mô hình thống kê và mô hình cấu trúc [4,27,28,29,30]. Trong nƣớc đã có nhiều nghiên cứu về hệ kinh tế sinh thái (HKTST) nông hộ, tuy nhiên, vấn đề ứng dụng mô hình cấu trúc để mô phỏng cấu trúc HKTST nông hộ để tìm ra phƣơng án đầu tƣ hiệu quả thì vẫn còn hạn chế [2,7,8,9,11,18,20]. Là một công cụ mô hình hóa và mô phỏng các hệ động, phần mềm MM & S đã đƣợc áp dụng trong việc phân tích các hệ động khác nhau (Nguyen Van Sinh, 2006, 2012) [16, 17]. Vì những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Mô hình hóa và mô phỏng hệ kinh tế sinh thái của một số hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Xây dựng mô hình toán và mô phỏng động thái HKTST của một số hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở để phân tích rút ra kết luận về khả năng đầu tƣ tối ƣu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình. Nội dung nghiên cứu bao gồm: - Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu. - Xác định các dạng đặc trƣng của HKTST hộ gia đình, lựa chọn các HKTST hộ gia đình đại diện, các yếu tố của các HKTST hộ gia đình đƣợc nghiên cứu. - Ứng dụng phƣơng pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa cấu trúc của các HKTST trên máy tính để phân tích cấu trúc HKTST nông hộ.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiêu khu vực nghiên cứu a) Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo An Lạc là xã miền núi nằm ở phía đông bắc của huyện Sơn Động, cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn An Châu) 13 km. Địa hình của xã An Lạc mang đặc trƣng của miền núi bị chia cắt mạnh bởi các đồi núi cao, khe sâu với các dải đất bằng nhỏ hẹp xen kẽ lẫn nhau, độ cao trung bình 340 m.
Địa hình có xu hƣớng thấp dần từ phía Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây, do chênh lệch độ cao nên địa hình có nhiều biến đổi lớn mang đặc thù xã trung du miền núi Bắc bộ. Địa hình không đồng đều, đồi núi phân bố rộng trong phạm vi toàn xã. Với đặc điểm của địa hình phức tạp nên việc sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu là ruộng bậc thang nhỏ lẻ nằm xen kẽ giữa các thung lũng và sƣờn đồi[1]. b) Khí hậu Đặc điểm khí hậu của xã An Lạc mang đặc trƣng của khí hậu vùng lục địa miền núi có hai mùa rõ rệt mùa mƣa và mùa khô [1].
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12. - Độ ẩm không khí trung bình năm: độ ẩm trung bình tháng cao nhất 91%; độ ẩm tháng thấp nhất 62%. - Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.
- Lƣợng mƣa vào mùa mƣa chiếm 70% lƣợng mƣa cả năm. Lƣợng mƣa trung bình năm 200÷1300 mm; lƣợng mƣa ngày lớn nhất là 218 mm. Vào mùa khô, trong các tháng 1, 2 có mƣa phùn kèm rét kéo dài do ảnh hƣởng của các đợt gió mùa Đông Bắc. - Lƣợng nƣớc bốc hơi trung bình hàng năm 955 mm, cao nhất vào tháng 7 là 92 mm và thấp nhất vào các tháng 2 và 3 là 58 mm.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Gió: hƣớng gió chủ đạo gồm gió Đông và gió Đông Bắc thổi vào mùa đông; mùa hạ có gió Đông Nam kèm theo hơi nƣớc. Tốc độ gió mạnh nhất 35 m/s. c) Thủy văn Xã An Lạc có địa hình chia cắt phức tạp, các nguồn nƣớc phân bố không đồng đều. Do địa hình dốc nên lƣu lƣợng nƣớc tại các khe suối ít nhất là vào mùa khô, do đó luôn xảy ra tình trạng hạn hán gây ảnh hƣởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.
Điều kiện thủy văn của xã chịu ảnh hƣởng của các dòng chảy trên địa bàn xã có các sông Lục Nam, sông Rãng, suối Kìa, khe Rỗ và khe Vàng [1]. d) Các nguồn tài nguyên Tài nguyên đất Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, diện tích tự nhiên của xã có 11.960,53 ha; bao gồm 9.873,16 ha đất nông nghiệp; 556,47 ha đất phi nông nghiệp; 1.530,90 ha đất chƣa sử dụng. Đất đai của xã An Lạc có độ phì nhiêu thấp, vùng trồng lúa có độ mùn thấp, độ chua lớn. Đất đai của An Lạc bao gồm 3 nhóm chính là: đất vàng, đất phù sa, đất bạc màu [1].
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: loại đất này có diện tích tƣơng đối lớn và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn xã, tầng đất day từ 30 cm đến 1 m, đất có kết cấu tƣơng đối tốt thích hợp cho việc trồng cây lâu năm và lâm nghiệp - Đất vàng nhạt trên đá cát và đá dăm cuội kết, phân bố ở khu vực núi cao - Đất đỏ vàng biến đổi trồng lúa nƣớc - Đất phù sa ven sông, thích hợp cho việc trồng các loại cây hoa màu có giá trị kinh tế cao - Đất bạc màu phát triển trên đất phù sa cổ có diện tích nhỏ phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi trọc, thích hợp cho phát triển một số cây ngắn ngày. Tài nguyên nước Tài nguyên nƣớc của xã có hai nguồn chính là nƣớc ngầm và nƣớc mặt [1]: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nguồn nƣớc ngầm: Tuy chƣa đƣợc tính toán cụ thể nhƣng qua thăm dò thực tế sử dụng của nhân dân cho thấy mực nƣớc ngầm có độ sâu từ 20-60 m, chất lƣợng phục vụ sinh hoạt tốt. - Nguồn nƣớc mặt: Gồm có sông Lục Nam, suối Kìa, khe Rỗ và Khe Vàng cung cấp nguồn nƣớc tƣới cho sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên rừng Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 trên địa bàn toàn xã có 9.483,17 ha đất lâm nghiệp bao gồm 945,89 ha đất rừng sản xuất, 1.630,28 ha đất rừng phòng hộ, 6.907,00 ha đất rừng đặc dụng.
Tài nguyên rừng của xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nên có nhiều loài cây gỗ quý cần đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt. Tài nguyên rừng của xã An Lạc có giá trị rất lớn với nhiều loài cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao, độ che phủ lớn, đây là tiềm năng lớn để địa phƣơng phát triển các ngành nghề từ lâm nghiệp góp phần thúc đẩy nâng cao đời sống nhân dân [1]. Tình hình kinh kế xã hội a) Dân số - xã hội [1,5,6] Dân số toàn xã là 3.156 ngƣời với mật độ dân số trung bình là 27 ngƣời/km2 đƣợc phân bố trên 12 thôn bản là Nà Trắng, Nà Noọc, Mới, Biếng, Nà Ó, Đồng Bây, Thác, Đồng Bài, Đồng Khao, Đồng Dƣơng, Rõng, Đƣờng Lội với 8 dân tộc cùng sinh sống bao gồm: Kinh, Tày, Cao Lan, Hoa, Dao, Sán Chỉ, Nùng và Mƣờng. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2011 là 9,82o/oo.
Công tác xoá đói, giảm nghèo đƣợc chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, do đó đời sống của nhân dân trong xã đƣợc cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2009 là 41%, giảm 29,48% so với năm trƣớc. Mạng lƣới giao thông đƣờng bộ trên địa bàn xã đã đƣợc mở rộng, nâng cấp đầu tƣ mạnh mẽ.