Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng hiện đại đòi hỏi các giải pháp công nghệ sản xuất vật liệu xanh nhằm thay thế công nghệ nung truyền thống gây ô nhiễm môi trường. Theo Quyết định số 1469/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, các sản phẩm không nung sử dụng xi măng - cát được ưu tiên phát triển hàng đầu nhờ nguồn nguyên liệu phong phú và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững. Trong dây chuyền sản xuất ngói không nung cán ép liên tục với năng suất cao lên tới 120 viên/phút (vượt trội so với công nghệ ép thủy lực khuôn kín chỉ đạt khoảng 4 viên/phút), công đoạn dưỡng hộ nhiệt ẩm là mắt xích then chốt quyết định tốc độ đóng rắn và độ đồng đều cơ lý của sản phẩm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước mã số ĐTĐLCN.18/17 do Viện Cơ điện tử CIE chủ trì. Quá trình dưỡng hộ nhiệt ẩm cho ngói xi măng cát cốt sợi polyme đòi hỏi môi trường hơi nước bão hòa có độ ẩm tương đối duy trì ở mức 95% và nhiệt độ đẳng nhiệt ổn định 55°C trong thời gian từ 6 đến 8 giờ. Tuy nhiên, sự phân bố nhiệt độ không đồng đều trong không gian buồng dưỡng hộ lớn dễ dẫn đến hiện tượng chênh lệch cơ tính, gây cong vênh hoặc nứt vỡ thành phẩm, làm suy giảm tải trọng uốn gãy dưới ngưỡng tiêu chuẩn 450 N theo TCVN 1453:1986.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu phương pháp mô hình hóa trường nhiệt độ 3 chiều trong buồng dưỡng hộ ngói bằng kỹ thuật hàm dạng, so sánh độ chính xác giữa hàm dạng lý thuyết và hàm dạng thực nghiệm, đồng thời thiết lập thuật toán giải bài toán thuận nghịch để xác định các vùng nhiệt độ cực đại, cực tiểu và phân bố nhiệt độ tại vị trí bất kỳ. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trực tiếp trên mô hình thiết bị tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thiết bị Công nghiệp CIE1 (Khu công nghiệp Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội) vào năm 2020. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng chính xác để tối ưu hóa chế độ cấp hơi nước, giúp giảm thiểu năng lượng tiêu hao cho hệ thống lò hơi 100 kg/h với áp suất 5 bar, giảm tỷ lệ phế phẩm xuống dưới 2% và nâng cao chất lượng toàn diện của ngói lợp composite xi măng - cát - sợi polyme.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trường vô hướng và truyền nhiệt đối lưu trong không gian kín đa nguồn phát. Trường nhiệt độ được mô tả như một tập hợp các điểm chịu ảnh hưởng đồng thời từ nhiều nguồn cấp nhiệt, trong đó cường độ nhiệt suy giảm dần theo khoảng cách lan truyền từ nguồn đến điểm khảo sát. Cường độ nhiệt độ xếp chồng tại một điểm bất kỳ trong không gian được xác định thông qua giá trị dừng của các hàm dạng thành phần tương ứng với từng nguồn phát nhiệt.

Khung lý thuyết đối chiếu hai cách tiếp cận mô hình hóa chính:

  • Phương pháp hàm dạng lý thuyết trong không gian 3 chiều ($r, s, t$): Sử dụng hệ tọa độ chuẩn hóa có gốc tại trọng tâm phần tử hữu hạn 8 đỉnh, trong đó các tọa độ $r, s, t$ biến thiên tuyến tính trong khoảng từ -1 đến +1. Mô hình này giả định tính đối xứng lý tưởng của trường nhiệt và thỏa mãn ba điều kiện biên toán học cơ bản: giá trị hàm dạng bằng 1 tại chính điểm nút chuẩn, bằng 0 tại các nút khác và tổng các hàm dạng tại một điểm bất kỳ luôn bằng 1.
  • Phương pháp hàm dạng thực nghiệm hồi quy đa cực: Xác định dạng hàm ảnh hưởng dựa trên dữ liệu đo thực nghiệm nhiều điểm và kỹ thuật giải hệ ma trận nghịch đảo. Phương pháp này không áp đặt giả thiết đối xứng, cho phép phản ánh chính xác các biến thiên phi tuyến phức tạp của dòng khí đối lưu trong buồng nhiệt thực tế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các quy chuẩn quốc tế về công nghệ dưỡng hộ nhiệt ẩm bê tông từ Hiệp hội Kỹ sư Xây dựng Nhật Bản (JSCE) với khuyến nghị nhiệt độ dưỡng hộ dưới 65°C, tốc độ tăng nhiệt dưới 20°C/h và Hội Bê tông Hoa Kỳ (ACI) cho phép nhiệt độ dưỡng hộ tối đa lên đến 82°C với thời gian đẳng nhiệt từ 4 đến 10 giờ. Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm: thời gian chờ tĩnh định (duy trì từ 3 đến 5 giờ sau khi cán ép), chu trình đẳng nhiệt (55°C trong 6 đến 8 giờ) và bài toán thuận - nghịch trường nhiệt độ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đo đạc vật lý, phương pháp thống kê toán học, phân tích hồi quy phi tuyến tính và giải thuật tối ưu hóa số trị.

  • Nguồn dữ liệu và bố trí thực nghiệm: Dữ liệu nhiệt độ được thu thập từ mô hình buồng dưỡng hộ kích thước hình học chuẩn với các kích thước bán trục $2a = 380$ mm, $2b = 285$ mm và $2c = 265$ mm. Hệ thống đo lường gồm 8 cảm biến nhiệt điện trở NTC (Negative Temperature Coefficient) độ nhạy cao từ 3% đến 6%/K được gắn cố định tại 8 đỉnh chuẩn của không gian khảo sát, kết hợp với 1 cảm biến kiểm chứng độc lập quét qua 9 điểm vị trí đặc trưng phân bố dọc theo thể tích buồng. Dữ liệu nhiệt ẩm được ghi nhận tự động thông qua bo mạch vi điều khiển kết nối máy tính qua 8 mốc thời gian đẳng nhiệt chuẩn (từ 1/8, 1/4, 3/8, 1/2, 5/8, 3/4, 7/8 đến khi kết thúc chu kỳ đẳng nhiệt).
  • Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp lấy mẫu phân tầng theo không gian 3D được áp dụng nhằm bao phủ toàn bộ thể tích buồng dưỡng, tập trung vào các vị trí nhạy cảm như vùng gần họng cấp hơi 100°C, khu vực quạt tuần hoàn công suất 2.5W và các góc đáy buồng có nguy cơ đọng nhiệt lạnh.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Để giải quyết bài toán ngược (tìm tọa độ điểm có nhiệt độ cho trước hoặc tìm vị trí cực đại/cực tiểu của trường nhiệt), tác giả sử dụng giải thuật Gradient giảm tổng quát (GRG - Generalized Reduced Gradient) được tích hợp trong công cụ Solver. GRG được lựa chọn vì tính ưu việt vượt trội trong việc xử lý các hàm mục tiêu phi tuyến tính dạng siêu việt có ràng buộc biên chặt chẽ, loại bỏ hoàn toàn các lỗi phân kỳ thường gặp trên các gói hàm chuẩn của Matlab hay Maple khi giải bài toán tối ưu trường thực nghiệm. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, chế tạo mô hình và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và mô hình hóa toán học đã mang lại các phát hiện cốt lõi:

  1. Ưu thế vượt trội của hàm dạng thực nghiệm so với hàm dạng lý thuyết: Kết quả đối chứng giữa nhiệt độ tính toán và dữ liệu đo thực tế từ cảm biến độc lập tại 9 điểm khảo sát cho thấy hàm dạng thực nghiệm đạt độ chính xác rất cao với sai số nhiệt độ dưới 1.5°C (tương đương độ tin cậy trên 98%). Trong khi đó, hàm dạng lý thuyết $r,s,t$ xuất hiện sai số lệch phương pháp dao động từ 4.2°C đến 5.8°C tại các điểm nằm xa trọng tâm do không bao quát được sự bất đối xứng của dòng khí đối lưu.
  2. Quy luật phân bố nhiệt động học qua 8 pha đẳng nhiệt: Trong suốt chu trình dưỡng hộ, sự phân bố nhiệt độ có sự thay đổi rõ nét theo thời gian. Tại các mốc 1/8 và 1/4 thời gian đẳng nhiệt, buồng sấy có độ chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng lên đến 14.5°C. Khi bước vào mốc 1/2 đến 3/4 thời gian đẳng nhiệt, nhờ tác động của quạt tuần hoàn đối lưu, trường nhiệt độ đạt trạng thái ổn định tiệm cận dừng với nhiệt độ vùng trung tâm buồng duy trì chuẩn xác ở mức 55°C ± 1.2°C và áp suất hơi bão hòa 5 bar.
  3. Nghiệm chính xác của bài toán ngược bằng giải thuật GRG: Ứng dụng công cụ Solver với thuật toán GRG đã xác định chính xác vị trí cực trị nhiệt độ trong không gian buồng dưỡng. Điểm có nhiệt độ cao nhất đạt 62.3°C định vị tại vùng lân cận họng phun hơi phía trên, trong khi điểm có nhiệt độ thấp nhất là 49.1°C nằm tại góc đáy gần cửa buồng. Mức chênh lệch nhiệt độ tối đa toàn miền khảo sát là 13.2°C.
  4. Cơ tính thành phẩm vượt tiêu chuẩn chất lượng: Mẫu ngói xi măng cát cốt sợi polyme (sợi PP) trải qua chu trình dưỡng hộ nhiệt ẩm tối ưu đạt trên 70% cường độ nén thiết kế chỉ sau 8 giờ xử lý nhiệt ẩm, tải trọng uốn gãy ở tuổi 28 ngày đạt mức 1380 N đến 1450 N (vượt xa mức tối thiểu 1300 N của ngói sóng và 450 N của TCVN 1453:1986), độ hút nước duy trì dưới 8.5% và thời gian xuyên nước đạt trên 75 phút.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự sai lệch của hàm dạng lý thuyết là do kết cấu hình học thực tế của buồng dưỡng hộ, sự bố trí bất đối xứng của ống phun hơi nước và quạt lưu thông gió 2.5W tạo ra các dòng xoáy nhiệt cục bộ. Sự chuyển động của không khí ẩm áp suất cao không tuân theo quy luật phân bố hàm bậc nhất hay bậc hai thuần nhất theo hệ tọa độ bán trục $r,s,t$. Việc xây dựng hàm dạng dựa trên kỹ thuật hồi quy ma trận thực nghiệm đã triệt tiêu hoàn toàn sai số thuật toán, biến mô hình thành công cụ mô phỏng chuẩn xác điều kiện nhiệt ẩm thực tế.

Dữ liệu trường nhiệt độ trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố đường đẳng nhiệt 3D (Isothermal surfaces) hoặc biểu đồ mặt cắt 2D theo các trục tọa độ $x-y, y-z$. Trên các biểu đồ này, gradient nhiệt độ thể hiện rõ mật độ tập trung nhiệt quanh trục đối lưu. Bảng ma trận đối chiếu 9 điểm đo thực tế so với 8 mốc thời gian đẳng nhiệt giúp kỹ sư giám sát trực tiếp độ trễ nhiệt của từng phân vùng buồng dưỡng.

So sánh với các nghiên cứu của ACI và JSCE, kết quả kiểm soát nhiệt độ tối đa ở mức 55°C - 62.3°C và tốc độ tăng nhiệt 18°C/h trong nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp để ngăn ngừa hiện tượng suy giảm cường độ dài hạn của bê tông (thường giảm 5% nếu dưỡng hộ quá 70°C). Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu không chỉ dừng lại ở bài toán dưỡng hộ ngói mà còn mở ra phương pháp luận tổng quát để mô hình hóa các trường đại lượng vật lý vô hướng khác như độ ẩm, nồng độ khí và trường âm thanh trong công nghiệp chế tạo máy.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô hình hóa trường nhiệt độ, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và vận hành cụ thể được đề xuất:

  1. Cải tiến hệ thống phân phối hơi và quạt đối lưu tuần hoàn: Tiến hành tái cấu trúc đường ống cấp hơi bằng cách lắp đặt vòi phun đa điểm dọc theo hai vách buồng thay vì tập trung tại một đầu cấp. Đồng thời, nâng công suất quạt đối lưu tuần hoàn từ 2.5W lên mức phù hợp nhằm tăng lưu lượng hòa trộn khí quyển, hướng tới mục tiêu giảm độ chênh lệch nhiệt độ cực đại giữa điểm nóng nhất (62.3°C) và điểm nguội nhất (49.1°C) xuống dưới 3.0°C. Chủ thể thực hiện: Phòng Thiết kế Cơ điện tử CIE1; Thời gian hoàn thành: 3 tháng.
  2. Chuẩn hóa quy trình công nghệ dưỡng hộ nhiệt ẩm 4 giai đoạn: Ban hành quy trình vận hành nghiêm ngặt: giai đoạn 1 duy trì thời gian chờ tĩnh định 3.5 giờ; giai đoạn 2 tăng nhiệt với tốc độ ổn định từ 18°C/h đến 20°C/h; giai đoạn 3 duy trì đẳng nhiệt 55°C trong 6.5 giờ với độ ẩm 95%; giai đoạn 4 hạ nhiệt độ tự nhiên với tốc độ dưới 15°C/h. Giải pháp này giúp cắt giảm 12% đến 15% lượng tiêu hao nhiên liệu của nồi hơi 100 kg/h. Chủ thể thực hiện: Bộ phận Quản đốc phân xưởng sản xuất ngói; Thời gian áp dụng: Ngay trong quý sản xuất tiếp theo.
  3. Nhúng thuật toán tối ưu GRG vào hệ thống điều khiển tự động PLC: Phát triển mô-đun phần mềm chuyển đổi giải thuật từ Excel Solver sang thuật toán xử lý thời gian thực trên PLC hoặc vi điều khiển công nghiệp. Hệ thống tự động thu thập tín hiệu từ mạng cảm biến NTC, tính toán nhanh tọa độ điểm dị thường nhiệt và tự động điều khiển đóng/mở van điện từ cấp hơi bão hòa 5 bar. Chủ thể thực hiện: Nhóm kỹ sư tự động hóa dây chuyền ĐTĐLCN.18/17; Thời gian triển khai: 6 tháng.
  4. Kiểm soát đồng bộ chất lượng cấp phối cốt sợi polyme: Duy trì nghiêm ngặt tiêu chuẩn nguyên liệu đầu vào với cát vàng có kích cỡ hạt dưới 2 mm đã sấy khô chống ẩm, xi măng Pooc-lăng đạt chuẩn và sợi polypropylene (PP) phân tán đều. Tỷ lệ sợi PP cần được giám sát chặt chẽ qua hệ thống định lượng tự động nhằm đảm bảo sản phẩm ngói phẳng và ngói sóng đạt tải trọng uốn trên 1300 N, trọng lượng viên ngói ổn định ở mức 4.4 kg đến 4.5 kg. Chủ thể thực hiện: Phòng KCS và Quản lý chất lượng; Thời gian thực hiện: Định kỳ hàng tuần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Kỹ sư Cơ khí, Cơ điện tử và Tự động hóa công nghiệp: Tiếp cận phương pháp ứng dụng hàm dạng thực nghiệm và giải thuật tối ưu hóa GRG để giải quyết các bài toán trường nhiệt trong thiết kế lò sấy công nghiệp, hệ thống sấy nông sản, buồng dưỡng hộ vật liệu và hệ thống điều hòa vi khí hậu.
  • Các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng không nung: Ứng dụng trực tiếp thông số công nghệ dưỡng hộ nhiệt ẩm chuẩn (55°C, độ ẩm 95%, chu kỳ 6 - 8 giờ) và quy trình vận hành nồi hơi an toàn để tối ưu hóa dây chuyền sản xuất ngói xi măng cát cốt sợi PP, nâng cao năng suất cán ép đạt 120 viên/phút.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Cơ khí và Vật liệu: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp giải bài toán nghịch trường vô hướng, kỹ thuật đo lường cảm biến NTC chi phí thấp và mô hình hóa toán học ứng dụng trên nền tảng phần mềm kỹ thuật.
  • Các nhà quản lý dự án khoa học và đơn vị chuyển giao công nghệ: Tham khảo mô hình nghiên cứu kết hợp giữa đề tài cấp nhà nước (ĐTĐLCN.18/17) với thực tiễn sản xuất tại doanh nghiệp (CIE1), hỗ trợ quá trình thẩm định các dự án đầu tư dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng xanh theo định hướng phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hàm dạng thực nghiệm lại có độ chính xác cao hơn hàm dạng lý thuyết $r,s,t$ trong buồng dưỡng hộ?
Hàm dạng lý thuyết $r,s,t$ giả định không gian truyền nhiệt đồng nhất và đối xứng tuyệt đối. Trong thực tế, buồng dưỡng hộ chịu tác động phi tuyến của luồng hơi nóng 100°C từ họng phun và quạt tuần hoàn 2.5W tạo ra các luồng đối lưu xoáy bất đối xứng. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy hàm dạng thực nghiệm khống chế sai số nhiệt độ dưới 1.5°C, trong khi hàm lý thuyết sai lệch đến 5.8°C.

Quy trình dưỡng hộ nhiệt ẩm tối ưu cho ngói xi măng cát cốt sợi polyme kéo dài bao lâu?
Quy trình tối ưu có tổng thời gian khoảng 11 đến 14 giờ, bao gồm: thời gian chờ tĩnh định 3 đến 5 giờ sau khi cán ép tạo hình, giai đoạn gia nhiệt 1.5 đến 2 giờ với tốc độ tăng nhiệt 18°C/h, giai đoạn duy trì đẳng nhiệt ở 55°C trong 6 đến 8 giờ với độ ẩm 95%, và giai đoạn làm nguội dần trong buồng kín.

Giải thuật GRG giải quyết bài toán nghịch trong mô hình trường nhiệt độ như thế nào?
Giải thuật Gradient giảm tổng quát (GRG) phân chia các biến không gian thành tập biến cơ sở và phi cơ sở, sau đó di chuyển dọc theo hướng ngược chiều véc tơ gradient để tìm kiếm cực trị hàm mục tiêu phi tuyến. Tích hợp trên Excel Solver, GRG quét chính xác tọa độ điểm nóng nhất 62.3°C và nguội nhất 49.1°C với tốc độ hội tụ nhanh và ổn định.

Việc bổ sung cốt sợi polyme (sợi PP) mang lại lợi ích cơ lý gì cho ngói xi măng cát?
Sợi polypropylene (PP) đóng vai trò phân tán ứng suất uốn, liên kết mạng tinh thể xi măng và ngăn ngừa rạn nứt vi mô trong quá trình đóng rắn. Cốt sợi PP giúp ngói mỏng nhẹ với trọng lượng chỉ 4.4 - 4.5 kg/viên nhưng đạt tải trọng bẻ gãy trên 1300 N, độ hút nước dưới 10% và kháng thấm nước vượt 60 phút.

Phương pháp mô hình hóa trường nhiệt này có thể mở rộng cho các ứng dụng nào khác?
Phương pháp hàm dạng thực nghiệm kết hợp thuật toán tối ưu số trị có thể chuyển giao linh hoạt cho nhiều bài toán trường vô hướng kỹ thuật khác như: mô phỏng trường độ ẩm trong kho bảo quản nông sản, phân bố cường độ ánh sáng trong nhà kính thông minh, khảo sát trường nhiệt trong quá trình nhiệt luyện kim loại hoặc tối ưu hóa thông gió đường hầm công trình.

Kết luận

  • Xây dựng thành công mô hình toán học trường nhiệt độ 3D trong buồng dưỡng hộ ngói xi măng cát cốt sợi polyme bằng phương pháp hàm dạng thực nghiệm, đạt độ chính xác cao với sai lệch dưới 1.5°C so với cảm biến kiểm chứng độc lập.
  • Ứng dụng hiệu quả giải thuật Gradient giảm tổng quát (GRG) trên công cụ Solver để giải quyết triệt để bài toán nghịch, xác định chính xác các điểm cực trị nhiệt độ trong buồng dưỡng từ 49.1°C đến 62.3°C.
  • Xác lập bộ thông số công nghệ dưỡng hộ nhiệt ẩm tối ưu: nhiệt độ đẳng nhiệt 55°C, độ ẩm bão hòa 95%, thời gian đẳng nhiệt 6 đến 8 giờ, đảm bảo thành phẩm ngói đạt độ bền uốn vượt mức 1300 N theo TCVN 1453:1986.
  • Đóng góp trực tiếp giải pháp kiểm soát nhiệt ẩm cho đề tài cấp nhà nước ĐTĐLCN.18/17, phục vụ dây chuyền cán ép ngói tự động hóa đạt công suất 120 viên/phút tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thiết bị Công nghiệp CIE1.
  • Kế hoạch phát triển tiếp theo giai đoạn 2021 - 2023 tập trung vào việc nhúng thuật toán GRG trực tiếp vào vi điều khiển công nghiệp PLC và mở rộng mô hình hóa đồng thời trường nhiệt - ẩm liên kết.

Quý độc giả, kỹ sư và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình tính toán trường nhiệt và công nghệ sản xuất ngói không nung có thể khai thác các công thức hàm dạng và thuật toán GRG chi tiết trong luận văn để ứng dụng trực tiếp vào các dự án công nghiệp thực tế.