CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, do sự phát triển của xã hội và dân số, nhu cầu về nhà ở và văn phòng ngày càng tăng cao, các cao ốc với hệ tầng hầm sâu không ngừng mọc lên. Việc thi công hệ tầng hầm của các công trình này thường xãy ra các sự cố như trượt lở thành hố đào, mất ổn định thành hố, bục đáy hố đào gây ảnh hưởng đến chính công trình đang xây dựng và cả những công trình lân cận. Thiệt hại do những sự cố này gây ra là không hề nhỏ cả về con người và vật chất.
Bên cạnh đó, các sự cố sạt lở đất tại Việt Nam vào mùa mưa đang xãy ra với tần suất ngày càng nhiều. Dọc theo đường Trường Sơn liên tiếp xảy ra các vụ sạt lở vào mùa mưa làm gián đoạn giao thông. Gần đây là vụ sạt lở ở Quốc lộ 6 (Hoà Bình) làm 2 người chết, sạt lở ở đường lên núi Cấm (An Giang) làm 6 người chết và tắc đường nhiều ngày, ở Lào Cai làm 15 người chết. Chiều ngày 16/10/2013 xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam xãy ra một vụ sạt lở làm 3 cha con thiệt mạng, chiều tối ngày 22/11, một vụ sạt lở núi nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) vùi lấp cả 3 cơ quan hành chính.
Sạt lở Sơn Tây (Quảng Ngãi) http://www.com/sat-lo-nui-dat-da-vui-lap-3-co-quan-hanh-chinh-o-quang- ngai/c/12492271.epi HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 1 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG Sạt lở đất ở Lạng Sơn làm 6 công nhân thiệt mạng xảy ra ngày 17/9/2014 Hình 2. Sạt lở đất ở Lạng Sơn http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/sat-lo-dat-o-lang-son-lam-6-nguoi-tu-vong- 3080660.html Các sự cố khi thi công nền móng công trình hay các các sự cố sạt lở đất vào mùa mưa đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản và tính mạng con người cũng như công tác quản lý trong xây dựng, quản lý rủi ro thiên tai. Do đó, đề tài này đề xuất xây dựng một mô hình ứng xủa của đất dính bão hòa nước bằng phương pháp phần tử rời rạc (DEM) và phần tử chất lỏng có khả năng ứng dụng để tính toán mô phỏng nhằm dự đoán được các sự cố có thể xãy ra từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hợp lý, cũng như có các biện pháp ứng phó kịp thời.Tình hình nguyên cứu trong và ngoài nước Nghiên cứu thực nghiệm về ứng xử của vật liệu đất, đá dưới tác dụng của nhiều loại tải trọng khác nhau đã được thực hiện rất nhiều trên thế giới (Sulem et al.
2005, Tien et al. Tuy nhiên đất là loại vật liệu rất đa dạng, phức tạp, tính chất thay đổi theo điều kiện địa lý. Hơn nữa, các vấn đề xảy ra với đất cũng rất đa dạng như sự phá hủy do trượt lở, phá hủy do đẩy nổi, do hóa lỏng, vấn đề về sức HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 2 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG chịu tải, vấn đề về lún, vấn đề tương tác giữa đất và công trình … Do đó nghiên cứu thực nghiệm về ứng xử của vật liệu đất đá là một quá trình không ngừng.
Về mặt tính toán mô phỏng số, các tác giả trên thế giới chủ yếu thực hiện mô phỏng ứng xử của đất sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn. Phương pháp này không thích hợp để mô phỏng phá hủy đất. Với sự phát triển của công nghệ máy tính, phương pháp phần tử rời rạc đã ra đời và ngày càng phát triển, nó được ứng dụng rộng rãi trong tính toán mô phỏng số ứng xử của đất đá (M. Shafipour et al 2008, Lui et al.
2003, Zhang et al 2006, Huang et al. 2008, Alonso et al 2008, Mustafa Alsaleh et al. Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ mới mô phỏng với mô hình 2D và chỉ mới tập trung vào một số bài toán về ứng xử của đất, hay mô phỏng với mô hình 3D nhưng chỉ áp dụng cho những loại đất có độ bão hòa nước dưới 30% (L. Ở Việt Nam, phương pháp phần tử rời rạc là phương pháp còn khá mới mẽ, hiện tại chỉ một vài tác giả tiếp cận với phương pháp này (Nguyễn Tiến Cường et al.
2012, Trần et al. Các tác giả này nghiên cứu chủ yếu cho bê tông hoặc sử dụng các luật ứng xử có sẵng để mô phỏng các bài toán thực tế. Mô phỏng ứng xử không thoát nước của đất dính bão hòa nước sử mô hình rời rạc 3D và mô hình chất lỏng là vấn đề mà luận văn này đặt ra để giải quyết. HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 3 Luan van GVHD: TS.
Nhiệm vụ và giới hạn đề tài - Xây dựng mô hình ứng xử của đất dính bằng phương pháp phần tử rời rạc - Kết hợp với mô hình chất lỏng cho nước trong lổ rỗng có sẵng - Số hóa mô hình rời rạc bằng ngôn ngữ C++, đưa mô hình vào trong chương trình tính mã nguồn mở Yade - Mô phỏng số - Đánh giá kết quả 1. Phương pháp nghiên cứu - Mô phỏng số ứng xử của đất đính trong thí nghiệm nén 3 trục và phần tử chất lỏng từ đó so sánh với kết quả thực nghiệm nhằm đánh giá về tính chính xác của mô hình số HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 4 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Phương pháp phần tử rời rạc Phương pháp phần tử rời rạc (DEM) đang được nghiên cứu phát triển và ứng dụng rộng rãi. Trong đó, có nhiều dạng phương pháp phần tử rời rạc đã được ứng dụng trong mô phỏng ứng xử của vật liệu đất, bê tông… Trong nghiên cứu này, phương pháp phần tử rời rạc cổ điển được đề xuất bởi Cundall & Strack (1979) được sử dụng.
Với DEM, vật liệu sẽ được rời rạc hóa bằng những phần tử hình học dạng đĩa, dạng hình cầu, dạng đa diện, …Các phần tử này độc lập với nhau và có thể biến dạng được hoặc tuyệt đối cứng. Trong nghiên cứu này, mẫu vật liệu được mô phỏng bằng một tập hợp những phần tử rời rạc dạng hình cầu không biến dạng chịu tác dụng của tải trọng, thuật toán của phương pháp DEM được thực hiện theo các bước sau : 1. Xác định tương tác giữa các phần tử rời rạc dựa vào thông số bán kính tương tác γ. Sử dụng “luật tương tác” (luật ứng xử cục bộ) để tính lực tương tác giữa hai phần tử rời rạc.
Lực này gồm hai thành phần, lực pháp tuyến và lực tiếp tuyến. Tính tổng lực tương tác tác dụng lên mỗi phần tử rời rạc. Định luật Newton 2 được áp dụng để tính gia tốc cho từng phần tử rời rạc, gia tốc này sẽ được tích phân theo thời gian để tìm vị trí mới cho phần tử. Quá trình này được tuần hoàn cho tới khi sự mô phỏng kết thúc.
HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 5 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG Với biến dạng nhỏ, vật liệu địa kỹ thuật có tính ma sát – dính thể hiện ứng xử đàn hồi tuyến tính. Để mô phỏng ứng xử này, lực tương tác giữa các phần tử rời rạc chỉ cần là lực đàn hồi tuyến tính và sẽ giảm được thời gian tính toán mô phỏng. Do đó trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất một mô hình ứng xử tuyến tính cho đất ma sát – dính.2 Mô hình ứng xử của đất dính Trong mô hình đề xuất, vector lực F, đại diện cho tác động của phần tử rời rạc (DE) a lên b, không chỉ kể đến khi 2 phần tử tiếp xúc, mà còn được kể đến khi khoảng cách giữa chúng nhỏ hơn so với bán kính tương tác, được điều chỉnh bởi hệ số , vậy hai DE được gọi là tương tác khi: (R a R b ) Dab (1) Trong đó Dab là khoảng cách từ trọng tâm của DE a và DE b, Ra và Rb là bán kính của các DE a và DE b tương ứng và 1.
Đây là sự khác biệt quan trọng so với phương pháp rời rạc cổ điển chỉ xem xét tương tác khi chỉ có tiếp xúc thật sự ( = 1). Trong mô hình này, véc tơ lực tương tác F có thể phân tích thành véc tơ lực pháp tuyến Fn và véc tơ lực tiếp tuyến Fs. Hai lực này được tính từ chuyển vị pháp tuyến tương đối và gia số chuyển vị tiếp tuyến tương ứng, thông qua các hệ số độ cứng Kn (Tran et al. 2011) theo phương pháp tuyến và Ks (Tran et al.
2011) theo phương tiếp tuyến (Hart et al. Ra Rb K n 2 E Ra Rb (2) K K s n HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 6 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG Trong đó E là mô đun biến dạng thực của đất được xem là thông số đầu vào của mô hình, α là hệ số không thứ nguyên được xác định dựa theo nghiên cứu của Donzé et al. Lực tương tác giữa 2 phần tử rời rạc Lực tương tác pháp tuyến có thể được tính thông qua sự cập nhật luật ứng xử cho từng tương tác giữa các phần tử (hình 2) và có thể chia thành hai giai đoạn, chịu nén và chịu kéo.
Trong giai đoạn chịu nén, ứng xử của đất là tuyến tính và lực tương tác pháp tuyến được tính bởi, Fn K n Deq - Dab (3) Fn là lực tương tác pháp tuyến, Deq, Dab tương ứng là khoảng cách ban đầu và hiện tại giữa hai phần tử a và b. Do vật liệu đất được nghiên cứu là đất dính nên tồn tại lực dính giữa các hạt đất. Trong mô phỏng rời rạc, lực dính giữa các hạt đất giúp cho tương tác giữa các phần tử rời rạc có thể chịu được lực kéo (hình 2). Lực tương tác pháp tuyến trong giai đoạn chịu kéo cũng được tính với công thức (2).
Tuy nhiên, tương tác sẽ bị phá hủy khi khoảng cách giữa hai phần tử rời HVTH: NGUYỄN VĂN BÌNH Trang 7 Luan van GVHD: TS. TRẦN VĂN TIẾNG rạc vượt quá giá trị khoảng cách giới hạn khi kéo (Dab > Drupture); khi đó, các lực tương tác không tồn tại. Véc tơ lực tiếp tuyến Fs được tính bằng sự cập nhật định hướng của nó, sự định hướng này phụ thuộc vào hướng xuyên tâm của hai phần tử rời rạc tương tác với nhau, và cộng thêm một gia số ΔFs (Hart et al. 1988), gia số này được định nghĩa bởi: Fs K s Us (4) Với ΔUs là gia số véc tơ chuyển vị tiếp tuyến (thể hiện sự thay đổi vị trí của điểm tương tác giữa hai phần tử sau một bước thời gian Δt).
Lực tương tác pháp tuyến giữa hai phần tử rời rạc. Để mô phỏng ứng xử ở trạng thái tới hạn của đất, tiêu chuẩn Mohr – Coulomb đã được sử dụng (hình 3).