Mở đầu 4 L3 Phuong pháp nghiên cứu Phương pháp lý thuyết: nghiên cứu cơ sở lý thuyết về cơ chế hình thành cường độ của dat gia cô khi sử dụng công nghệ geopolymer tổng hợp từ tro trâu hoạt hoá. Phương pháp thí nghiệm: chế bị mẫu thử và thí nghiệm để giải quyết mục tiêu của dé tài. I4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Nghiên cứu như là một hướng phát triển của ứng dụng vật liệu geopolymer trong xử lý nền đất yếu. Nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng là sản xuất ra vật liệu xanh, thân thiện với môi trường nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật.
Qua nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về sự phát triển cường độ chịu nén, module biến dang của vật liệu geopolymer được tổng hợp từ tro trâu hoạt hoá, khi ứng dung dé xử lý nền đất yếu trong điều kiện địa chất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Nội dung nghiên cứu 5 PHAN II. NOI DUNG NGHIEN CUU Tổng quan 6 CHUONG 1.1 Tinh hình nghiên cứu và phát trién công nghệ geopolymer 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới M. Karim et at.
( 2015) [4] đã nghiên cứu mẫu vữa thay thé xi măng bang các nguyên vật liệu: xỉ thép ( 40%, 50%, 55%, 60%, 70% theo khối lượng nguyên vật liệu), tro bay (20%, 30%, 35%, 40% theo khối lượng nguyén vật liệu), tro trâu ( 0%, 10%, 20%, 30% theo khối lượng nguyên vật liệu) và sử dụng các dung dịch hoạt hoá gôm: NaOH, Ca(OH)2, KOH ( có nông độ mol thay đôi: 1. Mẫu được bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng 25 + 20C và thời gian nén mẫu là 3 ngày, 7 ngày, 14 ngày và 28 ngày. Kết quả cường độ chịu nén lớn nhất của mẫu lập phương 50 mm x 50 mm x 50 mm theo tiêu chuẩn ASTM C109 đạt 42.24 MPa với thành phần nguyên vật liệu là 40% xỉ thép, 30% tro bay, 30% tro trâu, 2.5 mol/lít dung dich NaOH và ở 28 ngày bảo dưỡng. Chayanee Tippayasam et at.
( 2014) [5] nghiên cứu cường độ vật liệu geopolymer kaolin khi sử dung kaolin ( K), metakaolin ( MK - được nung từ kaolin ở nhiệt độ cao: 600°C, 700°C, 800°C, với thời gian nung là 2 giờ, và 6 giờ), tro trâu ( RHA), bagasse ash ( BA) và dung dịch kiểm kích hoạt Na2SiO3/NaOH= 3:2, trong đó nồng độ mol của dung dịch NaOH là 10 mol/lít. Kích thước mẫu: 25 mm x 25 mm x 25 mm, mẫu được bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng, và được nén sau 7, 14, 21, 28, và 91 ngày. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sau 7 ngày mẫu MK geopolymer đạt cường độ lớn nhất ( 40.75 MPa) khi nung kaolin ở 600°C trong thời gian 6 giờ. Cường độ chịu nén của mẫu geopolymer 100%K (29.6 MPa - Đặc biệt mẫu này yêu cau bảo dưỡng ở 80°C trong thời gian 24h sau đó bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng) xấp xỉ cường độ chịu nén của mẫu geopolymer 100% MK ( 30.9 MPa) sau 91 ngày nén.
Vì vậy có thé sử dung kaolin thay thé metakaolin trong tong hợp vật liệu geopolymer, nhăm tiết kiệm năng lượng, Tổng quan 7 cũng như giảm lượng lớn khí thải COa. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ứng với mẫu geopolymer gồm 80% K và 20% RHA cho kết quả cường độ chịu nén lớn nhất 16.2 MPa ở 28 ngày và 21.3 MPa ở 91 ngày nén. Yun Yong Kim et at. ( 2014) [6] tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện bảo dưỡng, nông độ dung dịch kiềm hoạt hoá đến cường độ của mẫu vữa geopolymer.
Dong thời so sánh với mẫu vữa sử dụng xi măng Portland. Mẫu vữa geopolymer sử dụng tro trau với dung dịch hoạt hoá sodium hydroxide ( NaOH có nông độ mol thay đối 7, 8, 9, 10 mol/lit) và sodium silicate ( Na2SiO3 được lay theo tỷ lệ Na2SiO3 /NaOH= 2.5/1), tỷ lệ tro trâu/cát= 1:2. Mau vữa geopolymer được bảo dưỡng ở hai điều kiện là nhiệt độ phòng và bảo dưỡng ở 60°C trong vòng 24 giờ sau đó ở nhiệt độ phòng. Và mẫu vữa xi măng Podtland có tỷ lệ giữa nước/xi măng = 0.45, được bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng.
Kết quả cường độ chịu nén của mẫu (mẫu có kích thước 100 mm x 100 mm x 100 mm) tăng theo thời gian bảo dưỡng mau là 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và dat giá trị lớn nhất 45 MPa khi mẫu có bảo dưỡng 24 giờ ở 60°C và 40.7 MPa với mẫu bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng sau 28 ngày, với NaOH = 10 mol/lít, trong khi mẫu vữa xi măng Portland đạt giá trị 25 MPa. Nuno Cristelo ef at. Khao sát với tỷ lệ phan trăm theo khối lượng của đất + tro bay là 20%, 30%, 40%, tương ứng tỷ lệ giữa tro bay/đất = 0. Ty lệ Na2Si0O3/NaOH = 2, với nông độ mol dung dịch NaOH là 10.
Mẫu B có: tỷ lệ nudc/xi mang= 0.25 va phan trăm xi măng theo khối lượng mẫu là 20%, 30%, 40%. Tất cả các mẫu được bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở mẫu A cường độ chịu nén của mẫu tăng khi ty lệ dung dịch hoạt hoá/tro bay giảm và đạt giá tri lớn nhất là 43.4 MPa sau 365 ngày bảo dưỡng. Bên cạnh đó, cường độ chịu nén của mẫu ở 28 ngày tương đối giống giữa mẫu A và mẫu B.
Tuy nhiên từ kết quả thí nghiệm mẫu A, cường độ chịu nén của mẫu A ở 28 ngày đạt khoảng 20 — 40 % cường độ chịu nén lớn nhất ở 365 ngày, trong khi mẫu B được dự báo theo công thức tính toán của Eurocode 2 ( 1992) đạt khoảng 80 — 85 % cường độ chịu nén lớn nhất ở 365 ngày. Dayakar Babu et at. ( 2013) [8] trình bày nghiên cứu ảnh hưởng của phan tram vật liệu geopolymer tro trâu ( 0%, 5%, 10%, 15%) đến các đặc trưng sức chống cắt ( lực dính và góc ma sát trong) của đất cát, đất yếu và hỗn hợp đất yếu trộn đất cát. Với mục dich là tận dụng nguồn nguyên vật liệu có sẵn, giảm lượng khí thải CO› dựa trên công nghệ geopolymer để cải tạo nên đất đất yếu.
Tác giả sử dụng vật liệu geopolymer gôm tro trau, 8 mol/lít dung dịch NaOH ( 25.2% NaOH ran và 74.8% nước), dung dịch NazSiO3 được tạo thành từ: NazO= 14.9% theo khối lượng. Khuôn đúc mẫu có đường kính 100 mm và cao 200 mm, và khuôn có khả năng tách đôi dọc thân mẫu để tiễn hành thí nghiệm cắt 3 trục ( theo tiêu chuẩn I. Mẫu được thí nghiệm cắt 3 trục sau 7 ngày bảo dưỡng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: sức chống cắt của đất có xu hướng tăng khi phần trăm vật liệu geopolymer tăng.
Khi mẫu có phân trăm đất yếu lớn hơn so với dat cát, sức chống cắt của mẫu tăng nhẹ khi phan trăm vật liệu geopolymer tăng và ngược lại khi mẫu có phan trăm dat cát lớn hơn so với đất yếu. Jian He et at. ( 2013) [9] nghiên cứu sử dụng bùn đỏ ( RM), tro trâu ( RHA) và dung dịch hoạt hoá NaOH dé tong hợp vật liệu geopolymer. Mẫu thí nghiệm có đường kính 20 mm và cao 50 mm và bảo dưỡng ở nhiệt độ phòng.
Thí nghiệm A: Khảo sát thời gian bảo dưỡng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49 ngày đến cường độ chịu nén của mẫu geopolymer tổng hợp từ RHA/RM = 0.4, dung dịch NaOH = 4 mol/lít. Kết quả thí nghiệm: Cường độ chịu nén của mẫu tăng ( of), biến dạng giảm ( £r), và Young’s modulus ( E) tăng theo thời gian bảo dưỡng, giá trị đạt được sau 49 ngày nén mẫu tương ứng là: 11. Thí nghiệm B: thí nghiệm ảnh hưởng tỷ lệ Si/Al = 1.35 bằng cách thay đổi tương ứng ty lệ RHA/RM = 0.6 đến cường độ chịu nén của mẫu geopolymer. Kết quả chỉ ra rằng: or, er, E tăng khi tỷ lệ Si/AI tăng từ 1.
er, E lớn nhất tương ứng: 20. Thí nghiệm C: đánh giá sự thay doi của dung dịch NaOH = 2, 4,6 mol/lit đến cường độ chịu nén của mẫu geopolyer sau 60 ngày bảo dưỡng. Kết quả cho thay: giá trị of lớn nhất ( 15.23 MPa), tương ứng ef lớn nhất ( 2.62%) và giá trị E bang 0.89 khi NaOH = 2 mol/lít. Thí nghiệm D: Khảo sát ảnh hưởng của kích cỡ hạt RHA ( hạt bình thường va hat min) dén cường độ chịu nén cua mẫu geopolymer, khi Tổng quan 9 NaOH băng 4 mol/lít.
Kết quả cho thay kích cỡ hạt min cho giá tri of, er, E lớn hon tuong tng: 16. Nuno Cristelo et at. ( 2011) [10] đã nghiên cứu vé SỬ dung dung dich kiém hoat hóa sodium hydroxide ( NaOH) dé tong hop geopolymer từ tro bay dé gia cố đất yếu. Bang thí nghiệm trong phòng, tác giả xác định cường độ chịu nén khi trộn tro bay với đất với mẫu thí nghiệm đường kính 38 mm và cao 76 mm, và mẫu thí nghiệm lấy từ hiện trường có đường kính 69 mm, cao trung bình khoảng 96 mm.
Kết quả so sánh trong điều kiện: thời gian bảo dưỡng 90 ngày, nồng độ dung dịch NaOH là 12.5 mol/lít, phần trăm theo khối lượng của tro bay: 30%, 40%, điều kiện bảo dưỡng: “bảo dưỡng bình thường — mát” và “bảo dưỡng kín — mát”. Kết quả so sánh tương quan cường độ chịu nén của mẫu hiện trường/trong phòng là 1.32 tương ứng với mau K ( 30% FA), G ( 40% FA), va C (40% FA). Với kết quả cường độ chịu nén của mẫu ngoài hiện trường của loại K, G, C tương ứng là: 6. Ali Nazari et at.
( 2011) [11] nghiên cứu anh hưởng kích thước cỡ hạt ( f-hat min và c-hạt thô) của hỗn hợp tro bay ( FA/F — Fly ash) và tro trâu ( RHBA/R — Rice husk bark ash), và dung dịch kích hoạt NaOH ( 4, 8, 12 mol/lít) với điều kiện bảo dưỡng khác nhau ( ở nhiệt độ phòng khoảng 25°C và sau 36 giờ bảo dưỡng ở các nhiệt 40, 60, 80, 90°C) đến cường độ chịu nén của mẫu geopolymer sau 7 và 28 ngày bảo dưỡng. Thí nghiệm trên các mẫu geopolymer fF — fR với sự thay doi nồng độ mol dung dịch NaOH, cho kết quả cường độ chịu nén của mẫu lớn nhất khi NaOH băng 12 mol/lít và nhiệt độ bảo dưỡng trong 36 giờ là 80°C. Với dung dịch NaOH băng 12 mol/lít, tiếp tục thí nghiệm trên các mẫu geopolymer. Kết quả thí nghiệm cho thấy cường độ chịu nén của mẫu tăng khi nhiệt độ bảo dưỡng mẫu trong 36 giờ tăng ( đạt giá trị lớn nhất ở 80°C) và khi thời gian bảo dưỡng mẫu tăng.
Sau 7 ngày, mẫu geopolymer fF (70%) — fR ( 30%) ( tương ứng tỷ lệ Si02/Al203 = 2.99) cho cường độ chịu nén lớn nhất đạt 44 MPa.