phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị và phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu. Chƣơng 1 nêu các khái niệm, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, quy định của pháp luật về lĩnh vực mua bán ngƣời, thực trạng mua bán ngƣời tại Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng.Mô hình hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về tại 03 huyện: Lục Ngạn, Lục Nam và Lạng Giang thuộc tỉnh Bắc Giang. Trong chƣơng 2 nêu lên đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, thực trạng mua bán ngƣời, những khó khăn, nhu cầu của phụ nữ bị mua bán trở về, lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức cũng nhƣ những hoạt động chính của mô hình hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về tại Bắc Giang, cụ thể là mô hình sinh hoạt nhóm tự lực qua khảo sát tại 03 huyện:Lục Ngạn, Lục Nam và Lạng Giang thuộc tỉnh Bắc Giang Chƣơng 3.
Đánh giá kết quả của mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bị mua bán trở về tại 3 huyện: Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang và một số khuyến nghị chung. Chƣơng này đƣa ra những tiêu chí đánh giá về mặt đã thực hiện đƣợc và chƣa thực hiện đƣợc của mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho Phụ nữ bị mua bán trở về và nêu lên vai trò của nhân viên xã hội đồng thời rút ra một số kinh nghiệm qua quá trình triển khai. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.
Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm mua bán người Theo pháp luật quốc tế Hiện nay, thuật ngữ mua bán ngƣời hay buôn bán ngƣời vẫn chƣa đƣợc thống nhất về cách gọi mà thƣờng đƣợc sử dụng với nghĩa nhƣ nhau, vậy ở đây chúng ta cũng có thể đồng nhất cách gọi đó. Theo Công ƣớc của Liên hợp quốc năm 1999, thì thuật ngữ “buôn bán ngƣời” chỉ đƣợc sử dụng để chỉ hành vi buôn bán phụ nữ vì mục đích mại dâm. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, cộng đồng quốc tế đã nhìn nhận đầy đủ hơn về vấn đề buôn bán ngƣời.
Cao uỷ Liên hiệp quốc về nhân quyền (UNHCP), Tổ chức di cƣ quốc tế (IOM), và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp quốc (UNICEF) đã đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “Buôn bán người là hành vi tuyển dụng, vận chuyển, mua bán, chuyển giao, che dấu hoặc tiếp nhận người bằng cách đe doạ dùng vũ lực, bắt cóc, lừa dối, ép buộc, kể cả lạm dụng thẩm quyền hay trừ nợ vì mục đích bố trí hay bắt buộc người đó dù có được trả tiền hay không vào tình trạng lao động cưỡng bức hoặc phải làm công việc tương tự như nô lệ trong một cộng đồng khác mà người đó đang sống”. Định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “Buôn bán người là việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, che dấu hoặc tiếp cận người bằng cách đe doạ hoặc dùng vũ lực hoặc các hình thức khác như ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương hoặc việc đưa hoặc nhận tiền hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người mà người đó đang có quyền kiểm soát một người khác, nhằm mục đích bóc lột. Việc bóc lột bao gồm tối thiểu: bóc lột 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm nghề mại dâm hoặc những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc phục vụ bắt buộc, tình trạng nô lệ hoặc những việc làm tương tự như tình trạng nô lệ, khổ sai hay cắt đi những bộ phận cơ thể con người”. Theo pháp luật Việt Nam Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật hiện hành ít sử dụng khái niệm buôn bán người.
Bộ luật Hình sự không có tội buôn bán ngƣời mà chỉ có tội Mua bán người. Thuật ngữ buôn bán phụ nữ tuy đƣợc dùng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật, tuy nhiên chƣa có một định nghĩa chính thức thế nào là buôn bán phụ nữ, trẻ em mà các khái niệm này hoặc chƣa đƣợc giải thích đầy đủ hoặc đƣợc giải thích chƣa cụ thể và toàn diện. Mặc dù BLHS năm 1999 quy định hai tội danh: Điều 119 - Tội mua bán phụ nữ. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 sửa đổi các điều luật này thành tội mua bán người, nhƣng tất cả các điều luật này cũng chỉ quy định chung mà không đƣa ra định nghĩa về các hành vi mua bán ngƣời.
Thực tiễn đấu tranh, điều tra, xét xử tội phạm, thì mua bán phụ nữ được hiểu là việc chuyển giao phụ nữ từ một người hoặc một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất, đây có thể coi là cách hiểu chung nhất về khái niệm mua bán phụ nữ ở Việt Nam. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến buôn bán ngƣời, có thể khái quát một số đặc điểm của hành vi buôn bán ngƣời theo pháp luật hiện hành của Việt Nam bao gồm: - Về mặt khách quan, có hành vi chuyển giao ngƣời từ ngƣời này qua ngƣời khác; - Về mặt chủ quan, có mục đích tƣ lợi (tiền hoặc lợi ích vật chất khác); - Về đối tượng bị buôn bán, là bất kỳ ai, trong đó trẻ em là những ngƣời có độ tuổi dƣới 16. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ các khái niệm mua bán ngƣời theo pháp luật Quốc tế và pháp luật Việt Nam quy định thì tác giả có thể tóm lƣợc và đƣa ra một khái niệm theo cách hiểu nhƣ sau: “ Một hoạt động được cho là mua bán người là hoạt động có sự trao đổi qua lại có liên quan đến việc trao người và nhận tiền giữa người bán và người mua. Không căn cứ vào mục đích, thủ đoạn hay hành vi.
khái niệm “nạn nhân” Không thể có bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào bị coi là thực hiện hành vi buôn bán ngƣời khi không xác định đƣợc nạn nhân bị buôn bán. Việc xác định nạn nhân bị buôn bán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán ngƣời. Theo Điều 3 Nghị định thƣ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán ngƣời, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (bổ sung Công ƣớc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia), thì nạn nhân của bọn buôn bán người được hiểu là người bị bọn tội phạm tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, che dấu, tiếp nhận vì mục đích bóc lột, bằng phương thức đe doạ, dung bạo lực hay các hình thức ép buộc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc địa vị dễ bị tổn thương hay bằng việc cho nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác. Một số quốc gia đƣa ra khái niệm nạn nhân bị buôn bán nhƣ: Luật Phòng, chống buôn bán ngƣời năm 2005 của Sierra Leone quy định:"nạn nhân" có nghĩa là người đã phải gánh chịu thiệt hại, bao gồm thiệt hại về thể chất hoặc tinh thần, đau khổ về tâm lý hoặc tổn thất về kinh tế hoặc thiệt hại đáng kể về các quyền con người cơ bản của họ, do các hành vi bị coi là vi phạm theo quy định của Luật này; Luật Phòng, chống buôn bán ngƣời của Phillippin quy định: Nạn nhân bị buôn bán: một người bị buôn bán bất chấp 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự đồng thuận của anh ta hoặc cô ta về việc vận chuyển, chuyển giao, bán hoặc những hoạt động khác liên quan đến buôn bán người.
Ở Việt Nam, khái niệm nạn nhân bị buôn bán lần đầu tiên đƣợc quy định tại Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tiếp nhận, hỗ trợ cho phụ nữ bị buôn bán từ nước ngoài trở về, theo đó, nạn nhân được hiểu là phụ nữ bị một người hay một nhóm người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương, giao, nhận tiền hoặc giao, nhận một lợi ích vật chất khác để đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ, hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể). Trên cơ sở khái niệm buôn bán ngƣời đã đƣợc đƣa ra ở phần trên, tác giả cho rằng có thể đƣa khái niệm nạn nhân tại điều luật giải thích từ ngữ trong Luật Phòng, chống buôn bán ngƣời, theo hƣớng, một người được coi là nạn nhân bị buôn bán khi bị người khác tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, che dấu, tiếp nhận bằng bất kỳ thủ đoạn nào nhằm mục đích trục lợi trên cơ sở bóc lột người đó. Khái niệm kẻ buôn người Kẻ buôn ngƣời “Là kẻ cám dỗ ngƣời nào đó bằng các cách quyến rũ, dùng bạo lực hoặc các hình thức khác, nhằm mục đích buôn bán kiếm lời. Hình thức phổ biến là ép buộc nạn nhân làm điếm, làm vợ bắt buộc, lao động trong các cơ sở sản xuất hoặc trong gia đình.
Những ngƣời tiếp nhận hoặc chuyển ngƣời khác trong nội bộ đất nƣớc hoặc ra nƣớc ngoài. Những ngƣời dùng uy tín, địa vị, chức vụ hoặc dùng nợ nần để đàn áp, ép buộc, lừa đảo các nạn nhân. Những ngƣời này có thể hoạt động theo nhóm, theo mạng lƣới hoặc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động độc lập” (TS. Lê Thị Quý, Vấn đề ngăn chặn nạn buôn bán phụ nữ ở Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2000) [32, tr,7].
Khái niệm PN Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia định nghĩa: Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài ngƣời. Phụ nữ thƣờng đƣợc dùng để chỉ một ngƣời trƣởng thành, còn con gái thƣờng đƣợc dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con ngƣời giống cái, bất kể tuổi tác, nhƣ là trong nhóm từ "quyền phụ nữ". Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trƣởng thành, hoặc đƣợc cho là đã trƣởng thành về mặt xã hội.
Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía ngƣời sử dụng.