chương 1, Tác giả sẽ làm rõ vấn đề nghiên cứu, lý do mục tiêu, đối tượng và phạm vi thực hiện nghiên cứu. Chương 2 sẽ tóm tắt các lý thuyết hỗ trợ chủ đề nghiên cứu, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Phần cuối của chương tổng kết và đưa ra mô hình nghiên cứu sẽ sử dụng trong đề tài. Chương 3 liên quan đến chi tiết mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, cách kịch bản thực hiện thực nghiệm, cách thức xây dựng danh mục và các biến trong mô hình.
Kết quả thực nghiệm sẽ trình bày, giải thích kết quả kèm theo các thảo luận trong Chương 4. Các kết quả thực nghiệm gồm: mô hình năm nhân tố và mô hình ba nhân tố theo từng danh mục hoặc toàn bộ dữ liệu khi được ước lượng bởi hồi quy tuyến tính OLS và hồi quy phân vị. Cuối cùng, Chương 5 sẽ kết luận những câu hỏi nghiên cứu nào đã trả lời, mức độ trả câu hỏi, những khiếm khuyết và khuyến nghị của đề tài và định hướng nghiên cứu tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình CAPM Mô hình định giá tài sản vốn, CAPM (Capital Asset Pricing Model) được giới thiệu bởi Sharpe vào năm 1964 và Lintner năm 1965.
Nền tảng của mô hình là Lý thuyết danh mục hiện đại (Modern Portfolio Theory) của Markowitz. Mô hình CAPM cũng kế thừa giả định thị trường vốn hiệu quả và hoàn hảo (thông tin đầy đủ, chi phí giao dịch không đáng kể, không có những hạn chế làm giới hạn việc đầu tư và không có nhà đầu tư có thể làm ảnh hưởng đến giá của tài sản). Đồng thời mô hình còn bổ sung thêm hai giả định quan trọng khác. Giả định thứ nhất, nhà đầu tư có thể dễ dàng cho vay và đi vay không giới hạn ở mức lãi suất phi rủi ro.
Giả định thứ hai, tất cả nhà đầu tư đều có cùng kỳ vọng thuần nhất (không có sự khác biệt về giá trị kỳ vọng- expected, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan). Khi ở trạng thái cân bằng, kỳ vọng TSSL của một tài sản hoặc danh mục có mối quan hệ tuyến tính với rủi ro thị trường. Mối quan hệ này được diễn tả bởi công thức sau: 𝑬(𝑹𝒊 ) = 𝑹𝒇 + 𝜷[𝑬(𝑹𝒎 ) − 𝑹𝒇 ] (2.1) Với 𝑅𝑖 TSSL của tài sản hoặc danh mục, 𝑅𝑓 là lãi suất phi rủi ro, 𝐸(𝑅𝑚 ) TSSL kỳ vọng của thị trường, 𝛽 = 𝐶𝑜𝑣(𝑅𝑖 , 𝑅𝑚 )/𝜎𝑀2 , 𝐶𝑜𝑣 (𝑅𝑖 , 𝑅𝑚 ) là hiệp phương sai 𝑅𝑖 (tài sản hoặc danh mục) với 𝑅𝑚 (thị trường), 𝜎𝑀2 phương sai của thị trường. Ưu điểm của CAPM là dễ minh họa và diễn giải.
CAPM được sử dụng rộng rãi, chủ yếu trong môi trường học thuật. Mô hình còn ngầm định rằng rủi ro riêng biệt của tài sản có thể được khắc phục bởi sự đa dạng hoá trong danh mục đầu tư. Đây là một điểm rất hay và được ứng dụng nhiều trong hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, mô hình cũng bộc lộ một số hạn chế về cả lý thuyết và thực nghiệm.
Thứ nhất, mô hình phải được đảm bảo bởi một số giả định không thực tế (nhà đầu tư vay và mượn không giới hạn ở mức lãi suất phi rủi ro, tất cả nhà đầu tư đều có cùng kỳ vọng thuần nhất). Thứ hai, không phải rủi ro nào cũng có thể khác phục bằng đa dạng hoá. Đó là những biến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động trong nền kinh tế như: sự thay đổi lãi suất, thị trường sụp đổ, kinh tế suy thoái, chiến tranh, … 2.2 Mô hình ba nhân tố Với mục đích khắc phục những hạn chế và đi tìm cách giải thích TSSL tài sản tốt hơn, Fama và đồng sự đã tổng kết những phát hiện ở các nghiên cứu giải thích TSSL trong giai đoạn trước năm 1992 trong hai bài báo (Fama & French, 1992, 2008). Hai ông nhận thấy khi kết hợp những phát hiện đó vào trong một mô hình để giải thích TSSL của tài sản là có ý nghĩa và tốt hơn.
Phát hiện đầu tiên của Banz vào năm 1981. Ông ta cho rằng giá trị thị trường (ME, market equity) của cổ phiếu có ảnh hưởng đến TSSL. Cổ phiếu có ME thấp thì có 𝛽 và TSSL cao hơn cổ phiếu có ME cao. Bhandari (1988) phát hiện có một mối quan hệ tương quan dương giữa đòn bẩy và TSSL.
Stattman (1980) và Rosenberg, Reid và Lanstein (1985) nhận thấy tỷ số B/M (BE/ME, BE là Book value of Equity) có mối quan hệ tương quan dương với TSSL. Basu (1983) thì nhận thấy tỷ số E/P (earning/price) cũng giải thích TSSL ở thị trường Mỹ. Sau khi đúc kết kết quả nghiên cứu trong bài báo trên, Fama và đồng sự trong bài báo (Fama & French, 1993) đã xác nhận lại quy mô (Size, ME của cổ phiếu), giá trị (value, tỷ số B/M) giải thích tốt TSSL. Mô hình này thường gọi là mô hình 3 nhân tố Fama- French (FF3Fs).
Mô hình được mô tả qua phương trình hồi quy tại thời điểm t của cổ phiếu/tài sản i như sau: 𝑹𝒊𝒕 − 𝑹𝑭𝒕 = 𝜶𝒊 + 𝒃𝒊 (𝑹𝑴𝒕 − 𝑹𝑭𝒕 ) + 𝒔𝒊 𝑺𝑴𝑩𝒕 + 𝒉𝒊 𝑯𝑴𝑳𝒕 + 𝒆𝒊𝒕 (2.2) Trong đó 𝑅𝑖𝑡 : TSSL của chứng khoán hoặc danh mục 𝑖 ở thời kỳ 𝑡 𝑅𝑀𝑡 : TSSL của dạnh mục thị trường tại thời kỳ t. 𝑅𝐹𝑡 : TSSL phi rủi ro tại thời kỳ t. 𝑅𝑀𝑡 − 𝑅𝐹𝑡 : TSSL vượt trội của của thị trường (phần bù rủi ro thị trường) tại thời kỳ t. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 𝑆𝑀𝐵𝑡 : Phần bù rủi ro quy mô (Small minus Big), TSSL danh mục quy mô nhỏ trừ TSSL danh mục quy mô lớn tại thời kỳ t.
𝐻𝑀𝐿𝑡 : Phần bù rủi ro giá trị (High minus Low, TSSL danh mục có tỷ số B/M cao trừ danh mục có B/M thấp tại thời kỳ t. 𝛼𝑖 : hệ số chặn. 𝑏𝑖 : hệ số nhạy cảm với biến động thị trường. 𝑠𝑖 : hệ số nhạy cảm với phần bù rủi ro quy mô.
ℎ𝑖 : hệ số nhạy cảm với phần bù giá trị. 𝑒𝑖𝑡 : sai số, phần dư (có kỳ vọng tiến về 0). Cũng trong bài báo (Fama & French, 1993), khi thực nghiệm hồi quy 25 danh mục (kết hợp 5 danh mục của quy mô với 5 danh mục của giá trị), Fama và French nhận thấy mô hình 3 nhân tố hiệu quả hơn mô hình CAPM do hệ số chặn tiến về gần 0 hơn và các nhân tố đều có ý nghĩa thống kê. Mô hình FF3Fs đã được kiểm định ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam có các công trình (T. Tran, 2017) và (Tran T. Hai công đều kết luận nhân tố giá trị và thị trường là yếu tố chủ lực giải thích TSSL của các cổ phiếu phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE. Đây cũng là cơ sở và động lực để tác giả kiểm định mô hình năm nhân tố của Fama French ở Việt Nam.
Phần tiếp theo, tác giả xin trình bày tổng quan về mô hình năm nhân tố.3 Mô hình năm nhân tố Mô hình FF3Fs được đạt được những thành công khi kết hợp thêm nhân tố quy mô và giá trị. Trên thực tế vẫn còn nhiều nhân tố khác tác động đến TSSL và được các nhà nghiên cứu phát hiện sau năm 1993. Trong bài báo (Fama & French, 2006), Fama và French đã đưa thêm các phát hiện của các nhà nghiên cứu khác vào mô hình của mình để kiểm định. Phát hiện đầu tiên, Cohen và đồng sự (2002), lợi nhuận có tác động cùng chiều với TSSL.
Fairfield và đồng sự (2003), việc đầu tư có quan hệ ngược chiều và tương đối yếu với TSSL. Ngoài ra, Fama và French còn đưa ra cơ sở lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 thuyết giải thích sự tồn tại mối quan hệ giữa TSSL với quy mô, giá trị, đầu tư và lợi nhuận. Mô hình chiết khấu cổ tức là cơ sở lý thuyết của mô hình (Fama & French, 2015). Mô hình nói rằng giá cổ phiếu là chiết khấu của cổ tức kỳ vọng trong tương lai về hiện tại.
Công thức dưới đã diễn đạt mối quan hệ đó như sau.3) 𝑴𝒕 = ∑ 𝑬(𝑫𝒕+𝝉 )⁄(𝟏 + 𝒓)𝝉 𝝉=𝟏 Trong đó, 𝑀𝑡 : giá cổ phiếu ở thời điểm t; 𝐸(𝐷𝑡+𝜏 ): kỳ vọng cổ tức trong khoảng thời gian 𝑡 + 𝜏, 𝑟 là TSSL kỳ vọng trong dài hạn của cổ phiếu hay TSSL nội bộ (internal rate of return) dựa vào kỳ vọng cổ tức. Kỳ vọng cổ tức của một cổ phiếu có thể được xác định là hiệu của doanh thu của 1 cổ phiếu 𝑌𝑡 và sự thay đổi giá trị sổ sách của 1 cổ phiếu 𝑑𝐵𝑡 = 𝐵𝑡 − 𝐵𝑡−1 hay 𝐸 (𝑑𝑡+𝜏 ) = 𝐸 (𝑌𝑡+𝜏 − 𝑑𝐵𝑡+𝜏 ). Khi đó công thức có thể viết thành ∞ (2.5) = ∑ 𝑩𝒕 𝑩𝒕 ( 𝟏 + 𝒓) 𝝉 𝝉=𝟏 Với công thức này ta có thể rút ra những mối quan hệ sau giữa TSSL và các nhân tố khác. Mối quan hệ giữa TSSL và quy mô thể hiện 𝑀𝑡 và 𝑟, 𝑀𝑡 càng nhỏ r càng lớn.
Mối quan hệ giữa TSSL và B/M được thể hiện thông qua 𝑀𝑡 /𝐵𝑡 và 𝑟, 𝑀𝑡 /𝐵𝑡 càng lớn thì 𝑟 càng nhỏ (hay 𝐵𝑡 /𝑀𝑡 càng lớn thì r càng lớn). Nhân tố lợi nhuận với TSSL là 𝑌𝑡+𝜏 và 𝑟, kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì TSSL càng lớn. TSSL với đầu tư (hay sự thay đổi giá trị sổ sách) là 𝑟 và 𝑑𝐵𝑡+𝜏 , 𝑑𝐵𝑡+𝜏 càng nhỏ thì 𝑟 càng lớn. Một giả định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 ngầm khi xác định mối quan hệ giữa hai yếu tố thì ta coi như các yếu tố khác không đổi.
Tuy vậy, kết quả thực nghiệm lại cho rằng nhân tố lợi nhuận không thực sự có tác động (không có ý nghĩa thống kê). Cũng thời điểm này, (Aharoni, Grundy, & Zeng, 2013) cho rằng nên thay thế các nhân tố có liên quan đến số cổ phiếu trong công thức định giá thì việc định giá sẽ tốt hơn. Do giá trị của những nhân tố đó có thể thay đổi khi cổ phiếu được mua lại hoặc phát hành mới. Tức là, sự thay đổi không do hoạt động sản xuất chính của doanh nghiệp.
Từng những nhận định trên, (Fama & French, 2015) giới thiệu mô hình Fama-French năm nhân tố (FF5Fs), mô hình FF3Fs bổ sung thêm nhân tố lợi nhuận và đầu tư. Nhân tố lợi nhuận được được đại diện bởi lợi nhuận hoạt động. Lợi nhuận hoạt động là lợi nhuận gộp cộng với doanh thu từ hoạt động tài chính, lợi nhuận/lỗ trong các công ty liên doanh và trừ đi cho chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Nhân tố đầu tư được đại diện bởi sự thay đổi tài sản.