Tổng quan nghiên cứu

Khu vực thềm lục địa miền Trung Việt Nam sở hữu tiềm năng tài nguyên dầu khí to lớn nhưng đối mặt với nhiều thách thức về mặt cấu trúc địa chất phức tạp. Bể trầm tích Phú Khánh trải dài từ vĩ độ 10°30' đến 15°30' Bắc và kinh độ 109°00' đến 112°30' Đông, bao phủ một diện tích biển rộng lớn khoảng 200.000 km² với địa hình đáy biển thay đổi sâu sắc từ 0 mét đến trên 4.000 mét nước. Mặc dù công tác khảo sát địa vật lý đã tích lũy hơn 17.000 km tuyến địa chấn, mức độ khoan thăm dò thực tế vẫn còn hạn chế với chỉ 03 giếng khoan sâu, dẫn đến nhiều luồng quan điểm trái chiều về chất lượng đá mẹ và nguồn gốc phát sinh dầu khí.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá định lượng mức độ trưởng thành của vật chất hữu cơ trong các tập trầm tích Kainozoi có bề dày lên tới hơn 10.000 mét, đồng thời xác định chính xác thời gian sinh và di cư hydrocarbon. Thông qua việc ứng dụng công cụ mô phỏng số Sigma 2D trên hệ thống tuyến địa chấn phân giải cao, luận văn đã làm sáng tỏ lịch sử địa nhiệt và động thái tạo bẫy chứa. Kết quả nghiên cứu xác định mật độ sinh dầu cực đại của tầng đá mẹ chủ lực đạt trên 16.10^6 Kl/km², cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp nâng cao tỷ lệ thành công trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tại các lô nước sâu xa bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết tiến hóa nhiệt và biến đổi vật chất hữu cơ của Tissot và Welte, kết hợp nguyên lý nhiệt phân Rock-Eval của Espitalié để phân loại Kerogen và đánh giá tiềm năng sinh hydrocarbon. Quá trình nén ép, dịch chuyển chất lưu trong trầm tích được mô phỏng dựa trên định luật thấm Darcy và phương trình truyền nhiệt dẫn xuất theo thời gian địa chất.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá địa hóa sử dụng trong công trình bao gồm:

  • Tổng hàm lượng carbon hữu cơ (TOC) biểu thị độ giàu hữu cơ trong đất đá theo phần trăm khối lượng.
  • Chỉ số hydro (HI, tính bằng mg HC/g TOC) kết hợp cùng nhiệt độ đỉnh nhiệt phân (Tmax) để xác định loại Kerogen 1, 2, 3 và pha sinh dầu hoặc khí.
  • Lượng hydrocarbon tự do (S1) và lượng hydrocarbon sinh ra từ quá trình nứt nhiệt Kerogen (S2, tính bằng mg HC/g đá).
  • Độ phản xạ Vitrinite (%Ro) và các tỷ số dấu ấn sinh học Sterane, Hopane trên sắc ký khối phổ nhằm xác định mức độ trưởng thành nhiệt và môi trường lắng đọng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ mạng lưới 09 tuyến địa chấn đại diện (gồm 05 tuyến khu vực nước nông dưới 200 mét và 04 tuyến khu vực nước sâu từ 200 mét đến trên 4.000 mét) thuộc các đợt khảo sát PV08, CSL và PGS có chiều sâu thu nổ đạt 8 đến 9 giây. Cỡ mẫu phân tích địa hóa bao gồm hàng trăm mẫu mùn khoan, mẫu lõi và mẫu chất lưu được chọn lọc theo phương pháp lát cắt địa tầng liên tục từ 03 giếng khoan nội bể tại Lô 124, Lô 127 và 07 giếng khoan đối sánh tại các khu vực lân cận như Nam Sông Hồng (Lô 114, 118, 119, 120, 121) và Bắc Nam Côn Sơn (Lô 03, 04.1). Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo bao quát toàn bộ các biến đổi tướng đá từ sét kết, sét vôi đến than và sét than.

Lý do lựa chọn mô hình hóa Sigma 2D là khả năng tái hiện đồng thời lịch sử chôn vùi, nén ép địa tầng và truyền nhiệt đa chiều với gradient địa nhiệt thực tế từ 3,5 đến 3,7 °C/100m. Phương pháp phân tích sắc ký khí (GC) kết hợp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) được áp dụng nhằm bóc tách cấu trúc phân tử sinh học phức tạp, giúp định danh chính xác nguồn gốc vật chất hữu cơ từ môi trường đầm hồ hay biển nông.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã phân loại và định lượng chi tiết hai tầng đá mẹ chủ lực trong bể Phú Khánh. Tầng đá mẹ Oligoxen phân bố tại các trũng sâu trung tâm với bề dày từ 3.000 mét đến hơn 5.000 mét, có hàm lượng TOC dao động từ 0,5% đến 5,9%, chỉ số S2 đạt từ 2,0 đến 29,1 mg/g đá và HI đạt 60 đến 625 mg HC/g TOC. Đặc biệt, các vỉa sét than tuổi Oligoxen tại Lô 114 ghi nhận giá trị TOC vượt trội từ 15,75% đến 41,56% cùng tiềm năng S2 lên tới 336,97 mg/g đá. Tầng đá mẹ Mioxen dưới chủ yếu là sét kết có TOC từ 0,5% đến 1,99%, chỉ số HI từ 64 đến 380 mg HC/g TOC, đặc trưng bởi Kerogen loại 3 thiên về sinh khí, ngoại trừ các tập sét than tại Lô 03 có TOC đạt 29,67% đến 38,89%.

Thứ hai, kết quả phân tích hóa lý mẫu dầu thô phát hiện tại độ sâu 1.473 mét trong đá chứa cacbonat Mioxen dưới tại giếng khoan Lô 124 chứng minh đây là loại dầu nhẹ và ngọt. Dầu có tỷ trọng 36,8° API, hàm lượng lưu huỳnh rất thấp ở mức 0,043% khối lượng, tỷ lệ phân đoạn hydrocarbon no chiếm 86,64%, tỷ số hydrocarbon no trên hydrocarbon thơm đạt 95,47% và hàm lượng hợp phần nặng NSO chỉ chiếm 4,53%. Tỷ số đồng phân Ts/(Ts+Tm) đạt 0,40 đến 0,44 tương đương độ phản xạ Vitrinite chuyển đổi Ro đạt xấp xỉ 0,95%, khẳng định sản phẩm dầu đã đạt mức độ trưởng thành nhiệt cao.

Thứ ba, mô hình Sigma 2D xác lập lịch sử tạo hydrocarbon với hai xung lực sinh và di cư chính. Quá trình sinh dầu bắt đầu sớm nhất cách đây khoảng 25,5 triệu năm tại đáy tầng Oligoxen vùng trũng sâu. Giai đoạn di cư mạnh mẽ lần thứ nhất diễn ra cách đây 19 đến 23 triệu năm (cuối Oligoxen đến đầu Mioxen sớm), giai đoạn thứ hai bùng nổ cách đây 11 đến 17 triệu năm (thời kỳ Mioxen giữa), và pha sinh khí khô diễn ra liên tục từ 13 triệu năm trước cho đến nay.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện địa hóa được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ quan hệ HI - Tmax và biểu đồ tương quan TOC - (S1+S2). Trên biểu đồ tam giác Sterane C27-C28-C29, các mẫu đá và mẫu dầu đều tập trung tại đới cửa sông và đầm hồ ven lục địa với tỷ số Pr/Ph lớn hơn 3, thể hiện môi trường trầm tích lắng đọng trong điều kiện oxy hóa thấp. Sự xuất hiện đặc trưng của cấu tử 4alpha-methyl-24-ethylcholestanes và nồng độ C30-4 methyl steranes đạt mức 119,47 trên sắc phổ khối m/z 217 khẳng định dầu thô Lô 124 có nguồn gốc phát sinh từ vật chất hữu cơ đầm hồ nước ngọt pha trộn thực vật bậc cao lục địa.

Về cơ chế động lực học, tại trũng trung tâm nơi trầm tích Kainozoi dày từ 9.000 đến 11.000 mét, tầng sinh Oligoxen bị chôn vùi sâu dưới tác động của dòng nhiệt từ 1,35 đến 1,45 HFU đã chuyển hóa hoàn toàn qua cửa sổ tạo dầu và hiện bước vào pha sinh khí khô. Dầu và khí hình thành được thoát ra khỏi tầng đá mẹ qua hệ thống đứt gãy đồng tạo rift dịch chuyển thẳng đứng lên các đới nâng cấu trúc, nạp đầy vào các bẫy chứa cacbonat và cát kết Mioxen. So với các bể trầm tích lân cận như Cửu Long hay Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh có tốc độ lún chìm sau rift nhanh, tạo điều kiện lý tưởng cho việc bảo tồn hydrocarbon nhưng cũng đặt ra nguy cơ tái phân tán do hoạt động đứt gãy trượt bằng Mioxen muộn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm gia tăng hiệu quả thăm dò và khai thác tài nguyên dầu khí tại bể Phú Khánh, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tối ưu hóa vị trí giếng khoan thẩm lượng: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và các nhà điều hành lô dầu khí cần định vị các giếng khoan tìm kiếm tại sườn đón dòng di cư thuộc đới nâng trũng trung tâm (khu vực Lô 123, 124, 125 và 126), tập trung vào bẫy cacbonat Mioxen dưới nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ phát hiện thương mại lên trên 30% trong giai đoạn 2026 - 2028.
  2. Khảo sát địa chấn không gian ba chiều: Triển khai thu nổ địa chấn 3D phân giải cao trên diện tích khoảng 2.500 km² dọc theo đới trượt Tuy Hòa và đới vát mỏng vỏ lục địa trước năm 2027 nhằm nhận diện chính xác các bẫy phi cấu tạo và mạng lưới nứt nẻ dẫn dòng chất lưu.
  3. Nâng cấp mô hình mô phỏng địa hóa 3D: Viện Dầu khí Việt Nam cần tích hợp số liệu áp suất dị thường và dòng nhiệt động lực học để xây dựng mô hình địa hóa không gian ba chiều, phấn đấu nâng độ chính xác dự báo thể tích dầu khí tại chỗ lên mức trên 85% vào năm 2029.
  4. Đánh giá tiềm năng tài nguyên khí Hydrat: Các đơn vị nghiên cứu biển phối hợp cùng cơ quan quản lý triển khai chương trình khảo sát địa vật lý chuyên đề tại vùng nước sâu trên 2.000 mét thuộc sườn lục địa ngoài khơi trong khung thời gian 2028 - 2030, đón đầu nguồn năng lượng mới Gas Hydrate.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Kỹ sư địa chất và chuyên viên địa vật lý dầu khí: Ứng dụng tập dữ liệu cấu trúc địa tầng Kainozoi, các thông số dòng nhiệt (1,35 đến 1,45 HFU) và mặt cắt bão hòa hydrocarbon để thiết kế quỹ đạo giếng khoan an toàn tại vùng nước sâu.
  2. Các công ty dầu khí và nhà đầu tư năng lượng: Khai thác kết quả đánh giá tiềm năng đá mẹ với mật độ sinh vượt 16.10^6 Kl/km² để thẩm định giá trị kinh tế các lô mở từ Lô 122 đến Lô 127 trước khi ký kết hợp đồng phân chia sản phẩm.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Địa chất Dầu khí: Sử dụng phương pháp luận tích hợp địa chấn địa tầng, sắc ký khối phổ sinh học và mô hình hóa Sigma 2D làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu và phát triển các đề tài khoa học liên ngành.
  4. Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản và năng lượng: Tham khảo luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch phân vùng thăm dò tài nguyên biển, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển gắn liền với an ninh năng lượng quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Bể trầm tích Phú Khánh có đặc điểm cấu tạo kiến tạo nổi bật nào? Bể Phú Khánh là bể trầm tích Kainozoi nước sâu phân bậc, tiếp giáp nền Indochina Craton với bề dày trầm tích từ 2.000 mét đến hơn 10.000 mét. Cấu trúc bể gồm 5 yếu tố kiến tạo chính: Thềm Đà Nẵng, Thềm Phan Rang, Đới Trũng trung tâm, Đới trượt Tuy Hòa và Đới vát mỏng vỏ lục địa, chịu sự khống chế của các pha tạo rift và trượt bằng phức tạp.

Đá mẹ nào đóng vai trò chính tạo ra dầu khí tại khu vực nghiên cứu? Tầng đá mẹ Oligoxen đóng vai trò cung cấp hydrocarbon chủ lực cho toàn bể với chiều dày từ 3.000 đến 5.000 mét, chỉ số TOC trung bình 0,5% đến 5,9% và kerogen loại 2/3. Bên cạnh đó, tầng đá mẹ sét than Mioxen dưới với TOC lên đến 38,89% đóng vai trò bổ trợ nguồn khí tự nhiên quan trọng.

Dầu thô phát hiện tại giếng khoan Lô 124 có tính chất như thế nào? Dầu thô Lô 124 là dầu nhẹ và ngọt có tỷ trọng 36,8° API, hàm lượng lưu huỳnh chỉ 0,043%, tỷ lệ hydrocarbon no đạt 86,64%. Dấu ấn sinh học chỉ ra tỷ số Ts/(Ts+Tm) đạt 0,44 và hàm lượng 4alpha-methyl-24-ethylcholestanes cao, khẳng định nguồn gốc dầu sinh ra từ đá mẹ đầm hồ xen lẫn lục địa đã đạt mức trưởng thành cao.

Mô hình địa hóa Sigma 2D cung cấp những thông tin quan trọng nào? Mô hình Sigma 2D tái hiện lịch sử chôn vùi, nén ép trầm tích và sự biến thiên địa nhiệt theo thời gian với gradient 3,5 đến 3,7 °C/100m. Công cụ này xác định chính xác các ngưỡng trưởng thành nhiệt Ro, thời điểm sinh nứt dầu khí, hướng di chuyển chất lưu và tính toán mật độ bão hòa hydrocarbon trên toàn bộ mặt cắt địa chấn.

Thời gian di cư hydrocarbon tại bể Phú Khánh diễn ra vào giai đoạn nào? Quá trình di cư hydrocarbon diễn ra theo hai pha chính: pha thứ nhất từ 19 đến 23 triệu năm trước (cuối Oligoxen đến đầu Mioxen sớm) và pha thứ hai từ 11 đến 17 triệu năm trước (Mioxen giữa). Các đợt di cư này ăn khớp hoàn hảo với thời điểm hoàn thiện bẫy kiến tạo đồng rift, tạo điều kiện lý tưởng cho việc nạp dầu vào vỉa chứa.

Kết luận

Nghiên cứu mô hình địa hóa bể Phú Khánh đã mang lại những kết luận khoa học mang tính bước ngoặt:

  • Xây dựng thành công cột địa tầng Kainozoi tổng hợp và bản đồ cấu trúc 5 mặt phản xạ địa chấn với bề dày trầm tích trũng sâu đạt 9.000 đến 11.000 mét.
  • Xác định tầng đá mẹ Oligoxen (TOC đạt 0,5 - 5,9%) và Mioxen dưới (TOC đạt 0,5 - 1,99%) có tiềm năng sinh hydrocarbon từ trung bình đến rất tốt.
  • Chứng minh dầu thô nhẹ (36,8° API) tại Lô 124 có nguồn gốc vật chất hữu cơ đầm hồ xen lục địa, đạt độ trưởng thành tương đương Ro xấp xỉ 0,95%.
  • Khôi phục tiến trình động học sinh hydrocarbon với 2 giai đoạn di cư lớn (19 - 23 triệu năm và 11 - 17 triệu năm trước), mật độ sinh cực đại vượt 16.10^6 Kl/km².
  • Thiết lập hệ thống thông số địa nhiệt chuẩn xác (gradient 3,5 - 3,7 °C/100m, dòng nhiệt 1,35 - 1,45 HFU) làm tiền đề cho các mô phỏng định lượng tiếp theo.

Trong kế hoạch phát triển khoa học giai đoạn 2026 - 2028, công tác nghiên cứu cần mở rộng sang mô hình hóa 3D động lực học và đối sánh dữ liệu khoan mới. Các nhà khoa học, kỹ sư và doanh nghiệp quan tâm đến việc ứng dụng mô hình địa hóa trong tối ưu hóa chiến lược thăm dò dầu khí nước sâu hãy liên hệ ngay với nhóm nghiên cứu để cùng hợp tác và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên biển của đất nước.