CHƯƠNG 1: TỔNG LUẬN VỀ MÔ HÌNH ĐA NHÂN TỐ 1.1 Tóm lược lý thuyết Năm 1952, Harry Markowitz đã giới thiệu lý thuyết danh mục hiện đại, nói rằng các nhà tư có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường tại một mức TSSL kỳ vọng bằng việc xây dựng một danh mục đầu tư đa được đa dạng hóa. Lý thuyết này đã thiết lập khái niệm “đường biên hiệu quả”, tức là với mức tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng nhất định thì danh mục nằm trên đường biên này có rủi ro thấp nhất, rủi ro cao hơn sẽ được bù đắp bằng TSSL kỳ vọng cao hơn. Trên cơ sở lý thuyết danh mục hiện đại và lý thuyết về thị trường vốn; William Sharp (1964), Litner (1965) và Mossin (1966) đã xây dựng mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM), mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Theo đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận phi rủi ro (risk- free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro hệ thống của chứng khoán đó; rủi ro không hệ thống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ nó.1) Với Ri là TSSL mong đợi của chứng khoán i Rf TSSL phi rủi ro RM là TSSL mong đợi của thị trường βi được định nghĩa như là hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu i so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường Tuy nhiên, rất nhiều những nghiên cứu thực nghiệm về CAPM của các nhà kinh tế như Gibbons (1982), Reinganum (1981), Coggin và Hunter (1985), Lakonishok và Shapiro (1986), MacKinlay (1987)… đã không thể chỉ ra chứng cớ mạnh mẽ nào về mối quan hệ giữa TSSL kỳ vọng và bêta thị trường, hay nói khác hơn là yếu tố rủi ro thị trường không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giải thích được TSSL kỳ vọng.
Do vậy, những kết quả này đã ủng hộ cho quan điểm rằng chỉ có rủi ro bắt nguồn từ thị trường thì không có khả năng giải thích giải thích TSSL trung bình và mô hình đa nhân tố ra đời để khắc phục khiếm khuyết này. Gene Fama và Ken French (1992) nhận thấy rằng β trong mô hình CAPM không giải thích được TSSL bình quân của chứng khoán Mỹ thời kỳ 1963. Do vậy, thay vì chỉ sử dụng một nhân tố để so sánh danh mục với toàn thị trường như CAPM thì Fama và French đã cộng thêm một số nhân tố vào mô hình hồi quy để hệ số xác định R2 phù hợp hơn. Họ bắt đầu với việc quan sát hai nhóm cổ phiếu có xu hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường (1) các cổ phiếu có vốn hóa nhỏ (small caps), cổ phiếu của các công ty quy mô nhỏ; (2) cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên thị giá cao (BV/P), cổ phiếu giá trị.
Sau đó họ thêm hai nhân tố này vào CAPM để phản ánh sự nhạy cảm của danh mục với hai nhóm cổ phiếu này tạo thành mô hình ba nhân tố Fama – French. Mô hình này cũng cho rằng TSSL cao là phần thưởng cho sự chấp nhận rủi ro cao và chỉ ra TSSL vượt trội của chứng khoán (Ri - Rf) chính là phần đóng góp của TSSL vượt trội thị trường của chứng khoán đó β3x(RM - Rf); cộng với phần bù của quy mô (bsxSMB), tức lợi nhuận do yếu tố qui mô của công ty mang lại và phần bù của giá trị (bvxHML), tức là phần TSSL tăng thêm do cổ phiếu giá trị mang lại. Ri = R f + β 3 x( RM − R f ) + bs xSMB + bv xHML (1.2) Ri là TSSL kỳ vọng của chứng khoán i; RM là TSSL của thị trường; Rf là lãi suất phi rủi ro. SMB (Small cap Minus Big) là TSSL bình quân của danh mục có giá trị vốn hoá thị trường nhỏ trừ TSSL bình quân của danh mục có giá trị vốn hoá thị trường lớn.
SMB dương chỉ ra rằng những chứng khoán có qui mô nhỏ có TSSL cao hơn những chứng khoán có qui mô lớn và ngược lại. HML dương thể hiện những cổ phiếu giá trị có TSSL tốt hơn so với những cổ phiếu tăng trưởng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 β3, bs và bv đo lường sự nhạy cảm của các nhân tố. Trong đó, β3 được gọi là beta chứng khoán 3 nhân tố (để phân biệt với beta chứng khoán trong CAPM).
bs và bv có giá trị dao động từ 0 đến 1; với bs =1 là danh mục vốn hóa nhỏ, bs = 0 là danh mục vốn hóa lớn; bv =1 là danh mục có tỷ số giá trị sổ sách trên thị giá (BV/P) cao… Các nhà kinh tế ủng hộ mô hình đa nhân tố cho rằng giá cả của tài sản có phản ứng với các sự kiện kinh tế. Những thay đổi trong kinh tế vĩ mô tác động đến giá cả tài sản nhiều hơn những nhân tố khác và cũng có những nhân tố không có ảnh hưởng gì cả. Do vậy, câu hỏi “những yếu tố kinh tế nào có ảnh hưởng đáng kể lên sự biến động giá của tài sản?” được cố gắng giải quyết bởi rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm thông qua việc sử dụng các mô hình đa nhân tố. Nhiều loại mô hình đa nhân tố đã được đề xuất và nghiên cứu, tùy thuộc vào loại nhân tố sử dụng mà chúng được phân chia thành 3 loại chính như sau: Mô hình nhân tố vĩ mô (Macro economic factor models): Các nhân tố là những bất thường trong các biến số vĩ mô (tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá trị sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ, xuất khẩu…) có thể giải thích đáng kể TSSL của chứng khoán.
Các nhân tố này được cho rằng sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền kỳ vọng trong tương lai của công ty hoặc đến lãi suất chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại. Mô hình này thường được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tác động của các nhân tố lên TSSL của chứng khoán. Mô hình các nhân tố cơ bản (Fundamental factor models): Các nhân tố đặc trưng của cổ phiếu hoặc công ty đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác nhau của giá các cổ phiếu tại một thời điểm. Các mô hình nhân tố cơ bản thường được sử dụng là tỷ số giá trị thị trường/giá sổ sách của cổ phiếu (P/BV), giá trị vốn hóa (market capitalization), chỉ số giá trên thu nhập (P/E) và đòn bẩy tài chính (finance leverage).
Mô hình này thường sử dụng để phân tích thành phần đóng góp vào hiệu quả của danh mục và phân tích rủi ro. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Mô hình các nhân tố thống kê (Statistical factor models): Phương pháp thống kê được áp dụng cho cho một tập hợp các TSSL quá khứ để xác định những danh mục có thể giải thích TSSL quá khứ theo một trong hai hướng sau: Trong mô hình phân tích nhân tố (factor analysis models), các nhân tố là những danh mục giải thích tốt nhất hiệp phương sai của TSSL quá khứ. Trong mô hình phân tích thành phần chính (Principal component analysis models), nhân tố là những danh mục giải thích tốt nhất phương sai của TSSL quá khứ. Các mô hình trên có thể được kết hợp để tạo ra mô hình các nhân tố hỗn hợp (mixed factor models).
Mô hình đa nhân tố giả định rằng TSSL của mỗi tài sản sẽ tương quan với giá trị bất ngờ (bằng giá trị thực tế - giá trị kỳ vọng) của các nhân tố vĩ mô (mô hình các nhân tố vĩ mô) như tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp, lạm phát, lãi suất, tiêu dùng, đầu tư, tỷ giá, xuất nhập khẩu…hoặc các nhân tố vi mô thể hiện đặc trưng của ngành, của doanh nghiệp… hoặc là các nhân tố khác (kỳ vọng của nhà đầu tư, mức hấp dẫn của các kênh đầu tư khác, nhân khẩu học.) như trình bày trong Phụ lục 01. Giá trị bất ngờ của các nhân tố (F) này tạo thành các biến số độc lập của mô hình đa nhân tố như sau: Ri = α i + β i1 F1 + β i 2 F 2 + .3) Mô hình đa nhân tố phổ biến nhất là lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory – APT). APT được giới thiệu bởi Ross (1976, 1977), phát triển thêm bởi Humberman (1982), Charmberlain và Rothschild (1983) đã chỉ ra rằng có nhiều rủi ro trong nền kinh tế mà không thể loại trừ được thông qua đa dạng hóa. Nguồn gốc của những rủi ro này có thể được cho là có liên quan đến các nhân tố kinh tế vĩ mô.
Thay vì tính toán một Bêta (β) như CAPM thì APT tính toán nhiều β thông qua việc ước lượng độ nhạy cảm của TSSL của một tài sản đối với những thay đổi của từng nhân tố. Lý thuyết này dựa trên ý tưởng rằng trong thị trường tài chính cạnh tranh kinh doanh chênh lệch giá bảo đảm việc định giá cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro. Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định TSSL cho các chứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 chính xác hơn. Giá của tài sản phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu được tính toán trong mô hình.
Nếu giá khác nhau, cơ hội kinh doanh chênh lệch sẽ đưa nó về lại điểm cân bằng. Ưu điểm của APT - Trong khi CAPM chỉ xét một biến duy nhất là phần bù rủi ro thị trường (Rm-Rf), APT cho phép đưa vào nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau để tăng cường mức độ thích hợp với những nền kinh tế đặc thù và vào những giai đoạn cụ thể. - CAPM đòi hỏi nhiều giả định chặt chẽ và đòi hỏi phải có một danh mục thị trường để có tỷ suất sinh lợi của thị trường (RM)tuy trên thực tế không thể quan sát được danh mục này. APT không đòi hỏi nhiều giả định và có thể lựa chọn trong số các biến quan sát được.
- Độ thích hợp của mô hình thể hiện ở chỉ số R2. Khi được xây dựng với các yếu tố thỏa đáng, APT luôn luôn có R2 cao hơn CAPM. - Đối với một cổ phiếu riêng biệt, APT cho thấy các yếu tố rủi ro chỉ giải thích được khoảng 25% dao động của cổ phiếu. Lý do là có đến 75% dao động được giải thích bởi các yếu tố rủi ro phi hệ thống.
Đối với các tập hợp chứng khoán đa dạng hóa, APT có thể cho thấy trên 90% dao động được giải thích bởi các yếu tố rủi ro.