Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học mang tên "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý nhà nước tại một đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam hiện có 63 tỉnh, thành phố, bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ). Trong hệ thống đô thị cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt với diện tích 2.095 km² (chiếm 0,63% diện tích tự nhiên cả nước) và dân số trên 7,4 triệu người (chiếm 8,6% dân số cả nước). Về mặt kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp gần 21,5% GDP và 35,2% tổng thu ngân sách quốc gia. Về tổ chức hành chính lãnh thổ, thành phố gồm 24 đơn vị hành chính (19 quận, 5 huyện) với 322 xã, phường, thị trấn.
Mặc dù giữ vị trí đầu tàu kinh tế - xã hội, mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn thể chế:
- Mô hình quản lý hiện hành áp dụng cơ chế tổ chức của chính quyền nông thôn cho địa bàn đô thị, chia cắt không gian đô thị thành nhiều tầng nấc trung gian, làm suy giảm tính tập trung, liên thông và đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
- Chế độ làm việc tập thể của Ủy ban nhân dân (UBND) làm mờ nhạt trách nhiệm của người đứng đầu, dẫn đến phản ứng chính sách chậm và hiệu quả thực thi công vụ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ còn nhiều kẽ hở, làm phát sinh hiện tượng phân tán quyền lực ngành dọc và xung đột thẩm quyền giữa các cấp chính quyền.
- Quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 mới dừng lại ở tính chất khung, chưa thể chế hóa đầy đủ các yếu tố đặc thù của siêu đô thị.
Các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã định hướng việc xây dựng chính quyền đô thị (CQĐT), tiêu biểu như:
- Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 (Hội nghị Trung ương 5 khóa X) về việc thí điểm mô hình CQĐT nhằm phân định rõ chính quyền nông thôn, đô thị và hải đảo.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm.
- Kết luận ngày 06/7/2012 của Bộ Chính trị (tổng kết Nghị quyết số 20-NQ/TW khóa IX), cho phép Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thí điểm các cơ chế đặc thù và xây dựng đề án quản lý theo mô hình CQĐT.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ VIII (2005) về kiến nghị Trung ương thí điểm CQĐT.
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là: Các nghiên cứu và đề án trước đây chưa xây dựng được hệ thống luận cứ khoa học toàn diện, chưa lượng hóa được hiệu quả quản lý của mô hình tổ chức mới so với mô hình hiện hữu, chưa làm rõ mối quan hệ phân cấp ngành dọc - lãnh thổ và phân cấp tài chính, cũng như chưa đánh giá đầy đủ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) trong việc vận hành bộ máy CQĐT đặc thù.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức CQĐT, luận án phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và vận hành của CQĐT ở Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức CQĐT phù hợp với đặc thù của thành phố trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
- Tổng quan các công trình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề liên quan đến CQĐT tại Việt Nam chưa được giải quyết đầy đủ; làm rõ cơ sở lý luận về CQĐT (quan niệm, đặc điểm, mô hình, kinh nghiệm quốc tế và bài học áp dụng).
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập mô hình CQĐT tại Việt Nam (căn cứ lý luận, chính trị, pháp lý).
- Khảo sát thực trạng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề bất cập trong tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức CQĐT phù hợp với đặc điểm của thành phố.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu (3 câu hỏi):
- Vì sao phải xây dựng mô hình tổ chức CQĐT ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới?
- Hiện tại tổ chức và hoạt động của CQĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức độ như thế nào?
- Những định hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là gì?
- Giả thuyết khoa học (3 giả thuyết):
- Mô hình CQĐT phù hợp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội.
- Tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có nhiều bất cập, cần có những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với các tiêu chí của CQĐT hiện đại.
- Cần đề xuất các giải pháp khả thi cho việc xây dựng mô hình CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức của chính quyền đô thị.
- Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ thực trạng mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh để đề xuất mô hình tổ chức phù hợp.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, nghiên cứu thực trạng CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến nay.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (có so sánh đối chiếu với các đô thị trực thuộc trung ương khác và kinh nghiệm quốc tế).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các công trình nghiên cứu ngoài nước về CQĐT đã phát triển thành các chuyên ngành độc lập như đô thị học, kinh tế học đô thị, hành chính học đô thị. Luận án phân loại các nghiên cứu quốc tế theo 4 nhóm chủ đề chính:
| Hướng tiếp cận |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Nội dung chính |
| Lý thuyết phát triển đô thị |
Ash & Nigel Thrift (2002) Neil Brenner, David J. Madden & David Wachsmuth (2010) Edward Soja (2000) Simon Parker (2015) K. Newton (1984) J. Molotch (1987, 1995) Neil Brenner & Christian Schmid (2012) Ricky Burdett & Deyan Sudjic (2006) Ignacio Farías & Thomas Bender (2010) |
Nghiên cứu mô hình kết hợp chuỗi đô thị, thách thức ô nhiễm, cung ứng dịch vụ công (nước sạch, rác thải, trường học), tội phạm đô thị và quản trị siêu đô thị. Đánh giá tính truyền thống và sự bảo thủ trong tổ chức cư dân tại Anh và xứ Wales; phân tích hiện tượng tụ tập và mạng lưới đô thị toàn cầu. |
| Mô hình CQĐT Tokyo (Nhật Bản) |
Akira Nakamura (1997) Kurt Steiner (1965) Kimihiko Kitamura (1983) Hiromi Muto (1997) Nobuo Sasaki (1998) Smith (2000) Yasuo Miyakawa Yousuke Isozaki (1997) Junshichiro Yonehara (1993) |
Phân tích bài học thành công của Tokyo: phân quyền mạnh mẽ cho địa phương; tự chủ trong cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân; cấu trúc chính quyền vùng - tại chỗ bảo đảm quy hoạch siêu đô thị; trách nhiệm giải trình và quan hệ tài chính Trung ương - địa phương. |
| Giải quyết các vấn đề xã hội đô thị |
Louis Wirth (1938/classic essays) Kimberly L. Wood & Gerald T. Gabris |
Phác thảo đặc trưng xã hội học đô thị (quy mô lớn, mật độ cao, tính đa dạng sắc tộc/tôn giáo); yêu cầu phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ cho xã hội dân sự và doanh nghiệp để giải quyết tình trạng quá tải nhân sự và tài chính của bộ máy. |
| Mô hình tổ chức và cải cách hành chính |
William R. Barnes (1991) Frank Staniszewski Alexey Konov (2000, 2003, 2004) James E. Rauch Olivier Borraz & Patrick Le Galès Ram Narayan Prasad (Ấn Độ, 1992) |
Phân loại 4 mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại Mỹ: Giám đốc - Hội đồng (chiếm 55%), Thị trưởng - Hội đồng (chiếm 34%), Ủy ban (<1%), Đại hội đồng thị trấn (5%). Phân tích cải cách dịch vụ công tại Austin (Mỹ) và Nga (chế độ công vụ theo hợp đồng mô tả công việc); phân quyền theo Đạo luật sửa đổi Hiến pháp số 77 năm 1992 của Ấn Độ (Điều 243-P đến 247-ZG). |
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các công trình từ năm 2001 đến nay được tác giả tổng hợp theo 3 nhóm:
-
Nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm quốc tế và nguyên tắc xây dựng CQĐT:
- Phạm Văn Đạt (2012), luận án tiến sĩ luật học Đổi mới tổ chức chính quyền đô thị ở nước ta: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, lịch sử từ năm 1945 và pháp luật hiện hành, đề xuất đổi mới CQĐT (tuy nhiên công trình thực hiện trước Hiến pháp 2013).
- Lê Anh Tuấn: Khảo sát mô hình tại New York (Thị trưởng - Hội đồng), Berlin (thành phố - bang, giảm cấp trung gian, tự quản 200 năm), Seoul (quận tự quản, cấp làng cung ứng dịch vụ cơ sở), Paris, Bắc Kinh. Rút ra bài học về cấu trúc cơ quan đại diện và hành chính, giảm tầng nấc và mở rộng sự tham gia của người dân.
-
Tổng kết thực tiễn các mô hình CQĐT tại Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh:
- Trần Kim Yến: Đánh giá thực trạng tổ chức CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ luật hiến pháp và hành chính.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2007) do Phan Xuân Biên chủ biên: Tập hợp các nghiên cứu của Lê Văn Yên, Nguyễn Văn Nhứt, Nguyễn Lê, Trương Thị Hiền, Vũ Thế Truyền, Nguyễn Đình Tư, Hồ Bá Thâm, Nguyễn Minh An, Lê Thanh Bình, Lê Văn Chấn, Nguyễn Đình Thống... thảo luận 6 nhóm vấn đề về lý luận, cải cách hành chính, cán bộ, quản lý kinh tế - xã hội, kinh nghiệm và bộ máy CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm Minh Tuấn và cộng sự (2015), đề tài nghiên cứu cấp tỉnh: Đánh giá thực trạng thực hiện Nghị định số 93/2001/NĐ-CP và thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường.
- Trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM & Quỹ Châu Á (2013): Nghiên cứu tình huống Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, khảo sát sự hài lòng của người dân và ước lượng hiệu quả tài chính của mô hình CQĐT.
- Các nghiên cứu của Lưu Tiến Minh (2012), Nguyễn Hữu Hải & Đào Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Đức (2012), Phạm Văn Đạt (2012), Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Phạm Thị Kim Giao, Nguyễn Minh Phương (2009), Phạm Hồng Thái... cung cấp luận cứ sửa đổi Hiến pháp 1992 và ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015.
-
Hoàn thiện thể chế, bộ máy và thiết chế HĐND:
- Nguyễn Đình Lộc (2011), Lưu Thiên Hương (2009), Báo cáo của Học viện Hành chính Quốc gia, Bùi Xuân Đức (2012): Bàn luận về việc bỏ hay duy trì HĐND quận, huyện, phường.
- Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM (HIDS): Đề xuất mở rộng phân cấp của Chính phủ cho thành phố theo 3 địa bàn (đã đô thị hóa, đang đô thị hóa, nông thôn trong đô thị).
- Đề án thí điểm CQĐT TP.HCM (2012): Đề xuất mô hình gồm 4 thành phố trực thuộc (thành phố Đông, Tây, Nam, Bắc) và nông thôn trong đô thị (Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ chuyển thành cấp hành chính).
- Đề án CQĐT TP.HCM (tháng 10/2019): Đề xuất mô hình 1 cấp chính quyền (cấp thành phố) và 2 cấp hành chính (quận/huyện/thành phố trực thuộc và phường/xã/thị trấn), thành lập Thành phố Thủ Đức (sáp nhập Quận 2, Quận 9, Quận Thủ Đức).
- Cao Vũ Minh (2020) và Trần Thị Thu Hà (2020): Phân tích địa vị pháp lý, thẩm quyền và yêu cầu đối với UBND Thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan các công trình cho thấy 7 hạn chế lớn mà luận án tập trung giải quyết:
- Thiếu khung lý luận phù hợp với thể chế chính trị đơn nhất của Việt Nam khi tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.
- Mô hình hiện hành vẫn áp dụng chung một khuôn mẫu pháp lý cho cả nông thôn và đô thị.
- Tác dụng của các thí điểm trước đây bị hạn chế do vướng mắc khung pháp lý cấp trung ương.
- Trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chưa được luật hóa minh bạch; mối quan hệ ngành - lãnh thổ bị chồng chéo.
- Thiếu hành lang pháp lý cho các đô thị vệ tinh và quyền tự quản ngân sách địa phương.
- Đề xuất mô hình mới nhưng chưa chứng minh, lượng hóa được tính hiệu quả và hiệu lực vượt trội, chưa tính toán năng lực thực tế của đội ngũ CBCC.
- Đa số nghiên cứu dừng lại ở mức độ nghiên cứu bàn giấy, thiếu dữ liệu định lượng và tiêu chí khảo sát thực địa đa diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm cốt lõi
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng bộ máy nhà nước.
- Khái niệm Chính quyền đô thị (CQĐT): Là một hình thức của chính quyền địa phương, được tổ chức phù hợp với đặc điểm của đời sống đô thị, với quyền tự chủ nhất định trên các lĩnh vực quản lý trên địa bàn trong giới hạn cho phép của Hiến pháp và pháp luật.
- Mô hình tổ chức CQĐT: Là chỉnh thể cấu trúc các cơ quan chính quyền với thẩm quyền, mối quan hệ và phương thức hoạt động tương ứng, bao gồm cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành.
- Ba tiêu chí đặc trưng của CQĐT:
- Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ: Giảm tầng nấc trung gian, quy mô diện tích quản lý tập trung; đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu do dân bầu trực tiếp.
- Tính tự quản lớn: Tự chủ trong quản lý quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường, tự cân đối ngân sách địa phương và tự quyết về nhân sự, biên chế.
- Tính phân cấp, phân quyền cao: Phân định thẩm quyền minh bạch giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền để xóa bỏ tình trạng trùng chéo chức năng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thu thập, xử lý số liệu:
- Phương pháp phân tích, so sánh (chủ đạo): Phân tích các bất cập trong quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh; so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (1945, 1958, 1980, 1992, 2013, 2015) và so sánh với mô hình của các nước (Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ).
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận cứ lý thuyết và thực tiễn từ các đợt thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường và các đề án của Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Rà soát văn bản pháp luật, nghị quyết của Đảng, báo cáo tổng kết của Thành ủy, UBND TP.HCM và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Phương pháp thu thập số liệu thống kê: Thu thập số liệu từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê TP.HCM, Thành ủy, UBND TP.HCM và các sở, ngành, quận, huyện nhằm đối sánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa TP.HCM với cả nước và giữa các đô thị trực thuộc trung ương.
- Phương pháp chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: chuyên gia nghiên cứu về CQĐT, lãnh đạo và cựu lãnh đạo UBND thành phố, lãnh đạo các sở, quận, phường, đại biểu HĐND, Mặt trận Tổ quốc các cấp, đại diện doanh nghiệp và người dân. Nội dung phỏng vấn tập trung vào thủ tục hành chính (cấp phép xây dựng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký kinh doanh), chất lượng dịch vụ công và các đề xuất về mô hình CQĐT.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu gồm 04 chương, 09 tiết (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và phiếu điều tra xã hội học):
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về CQĐT trong nước và quốc tế.
- Đánh giá chi tiết 4 mô hình CQĐT tại Mỹ (Giám đốc - Hội đồng, Thị trưởng - Hội đồng, Ủy ban, Đại hội đồng thị trấn) và bài học phân cấp tại Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ.
- Phân tích lịch sử lập hiến và lập pháp tại Việt Nam qua các mốc:
- Sắc lệnh số 63/SL (23/11/1945) và Sắc lệnh số 77/SL (21/12/1945): Xác lập phân định nông thôn (3 cấp: tỉnh, huyện, xã) và đô thị (2 cấp: thành phố, khu phố); cấp kỳ, huyện, khu phố là cấp không hoàn chỉnh (không có HĐND).
- Luật số 110-SL/L (31/5/1958): Phân định rõ chức năng, thẩm quyền của chính quyền đô thị và nông thôn.
- Hiến pháp 1980: Đồng nhất hóa tổ chức 3 cấp chính quyền (thành phố - quận - phường) có đầy đủ HĐND và UBND, xóa nhòa đặc thù đô thị.
- Nghị quyết số 26/2008/QH12, Nghị quyết 724/2009/NQ-UBTVQH12, Nghị quyết 725/2009/NQ-UBTVQH12: Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường.
- Chỉ ra khoảng trống tri thức: Các nghiên cứu chưa gắn kết việc đổi mới tổ chức bộ máy với phân cấp ngân sách và hoàn thiện thể chế theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015.
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính quyền đô thị và mô hình tổ chức chính quyền đô thị
- Xác lập khung lý luận về tính đặc thù của không gian đô thị: Đô thị là một thực thể kinh tế - xã hội liên thông, không bị chia cắt bởi địa giới hành chính cục bộ.
- Phân tích các yêu cầu đối với mô hình tổ chức CQĐT theo quy định pháp luật hiện hành:
- Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và liên thông về quy hoạch, kết cấu hạ tầng (giao thông, điện, cấp thoát nước, xử lý rác thải) và quản lý dân cư.
- Xác định cấu trúc HĐND và UBND phù hợp với đặc điểm đô thị, tránh việc tồn tại hình thức của HĐND cấp quận, phường khi các chính sách vận hành đô thị do cấp thành phố quyết định.
- Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp cho việc đan xen giữa chính quyền nông thôn trong đô thị và đô thị trong chính quyền nông thôn.
- Chi tiết hóa cấu trúc tổ chức HĐND và UBND theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015:
| Cấp hành chính |
Quy mô đại biểu HĐND |
Cơ cấu Thường trực HĐND & Ban chuyên trách |
Cơ cấu Ủy ban nhân dân (UBND) |
| Thành phố trực thuộc Trung ương |
≤ 1 triệu dân: 50 đại biểu. > 1 triệu dân: cứ thêm 50.000 dân thêm 1 đại biểu (tối đa 95 đại biểu). Hà Nội và TP.HCM: 105 đại biểu. |
Chủ tịch HĐND, 02 Phó Chủ tịch HĐND chuyên trách, các Ủy viên là Trưởng ban và Chánh Văn phòng HĐND. Thành lập 4 Ban: Pháp chế, Kinh tế - ngân sách, Văn hóa - xã hội, Đô thị. |
Chủ tịch UBND. Hà Nội & TP.HCM: không quá 05 Phó Chủ tịch (các tỉnh/thành khác không quá 04). Ủy viên UBND gồm thủ trưởng cơ quan chuyên môn (Sở), Công an, Quân sự. |
| Quận (trực thuộc thành phố) |
≤ 80.000 dân: 30 đại biểu. > 80.000 dân: cứ thêm 10.000 dân thêm 1 đại biểu (tối đa 40 đại biểu). Quận có ≥ 30 phường: tối đa 45 đại biểu. |
Chủ tịch HĐND, 02 Phó Chủ tịch HĐND chuyên trách, các Ủy viên là Trưởng ban. Thành lập 2 Ban: Pháp chế, Kinh tế - xã hội. |
Chủ tịch UBND. Quận loại I: không quá 03 Phó Chủ tịch; quận loại II, III: không quá 02 Phó Chủ tịch. Ủy viên: Thủ trưởng các phòng chuyên môn, Công an, Quân sự. |
| Phường (thuộc quận) |
≤ 8.000 dân: 25 đại biểu. > 8.000 dân: cứ thêm 4.000 dân thêm 1 đại biểu (tối đa 35 đại biểu). |
Chủ tịch HĐND, 01 Phó Chủ tịch HĐND chuyên trách, Trưởng/Phó ban hoạt động kiêm nhiệm. Thành lập 2 Ban: Pháp chế, Kinh tế - xã hội. |
Chủ tịch UBND. Phường loại I: không quá 02 Phó Chủ tịch; phường loại II, III: 01 Phó Chủ tịch. Ủy viên phụ trách quân sự, công an. |
Chương 3: Thực trạng mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng bộ máy: Tổ chức chính quyền thành phố bị chia cắt thành 3 cấp hành chính, áp dụng cơ chế điều hành tập thể khiến quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch UBND chưa được phân định rạch ròi với tập thể UBND.
- Phân tích sự trùng lặp, xung đột thẩm quyền giữa các Sở chuyên ngành (quản lý theo ngành dọc) và UBND quận, huyện (quản lý theo chiều ngang).
- Tổng kết việc thực hiện các Đề án thí điểm CQĐT của thành phố:
- Đề án thí điểm năm 2012: Thiết kế mô hình gồm 4 khu đô thị/thành phố vệ tinh:
- Khu Đông (TP Đông): Quận 2, Quận 9, Quận Thủ Đức (diện tích 211 km²), trung tâm là Khu đô thị mới Thủ Thiêm, phát triển dịch vụ cao cấp và công nghệ cao.
- Khu Nam (TP Nam): Quận 7, Huyện Nhà Bè, một phần Quận 8 và Bình Chánh (diện tích 194 km²), phát triển dịch vụ cảng và thương mại.
- Khu Bắc (TP Bắc): Quận 12, phần lớn Huyện Hóc Môn (diện tích 149 km²), phát triển du lịch sinh thái, nông nghiệp kỹ thuật cao.
- Khu Tây (TP Tây): Quận Bình Tân, một phần Quận 8 và Huyện Bình Chánh (diện tích 191 km²), đầu mối giao lưu với Đồng bằng sông Cửu Long.
- Địa bàn nông thôn: Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ (diện tích ~1.600 km²), chuyển cấp huyện thành cấp hành chính (không tổ chức HĐND huyện).
- Đề án CQĐT khởi động lại tháng 10/2019: Tinh gọn thành mô hình 1 cấp chính quyền (cấp thành phố) và 2 cấp hành chính (quận/huyện và phường/xã/thị trấn), thành lập một thành phố trực thuộc duy nhất là Thành phố Thủ Đức trên cơ sở nhập Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức.
- Khảo sát việc thực hiện cơ chế đặc thù theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV (kỳ họp thứ 4):
- HĐND thành phố được quyền quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên.
- Quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A sử dụng ngân sách thành phố theo Luật Đầu tư công.
- Đề xuất tăng mức thuế hoặc thuế suất đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường (mức tăng không quá 25%).
- Cơ chế ủy quyền từ Chủ tịch UBND thành phố cho Chủ tịch UBND cấp huyện.
- Chi thu nhập tăng thêm cho CBCC, viên chức tối đa không quá 1,8 lần mức lương ngạch bậc, chức vụ; HĐND quyết định mức đãi ngộ cho chuyên gia, nhà khoa học.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất định hướng hoàn thiện thể chế: Xây dựng cơ chế tổ chức bộ máy tinh gọn, chuyển các cấp quận, phường từ cấp chính quyền hoàn chỉnh thành cơ quan đại diện hành chính (UBND/Ủy ban hành chính), giảm tải đầu mối trung gian.
- Đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền và ủy quyền: Kiến nghị Trung ương phân cấp mạnh mẽ cho thành phố trong 5 lĩnh vực then chốt: quản lý tài chính công, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đặc thù, tổ chức nhân sự - biên chế, quy hoạch - kế hoạch - đầu tư, và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
- Cơ cấu lại đơn vị hành chính theo mô hình "thành phố thuộc thành phố" đối với Thành phố Thủ Đức, phân cấp rõ thẩm quyền quản lý giữa UBND thành phố và chính quyền thành phố trực thuộc.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ công và cải cách hành chính: Triển khai mô hình "một cửa, một dấu", kiểm soát việc giải quyết thủ tục đất đai, cấp phép xây dựng; thiết lập cơ chế công khai, minh bạch nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
- Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ CBCC, gắn thẩm quyền cá nhân người đứng đầu với cơ chế kiểm soát quyền lực và chế độ đãi ngộ tương xứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm rõ và hệ thống hóa hệ thống khái niệm, tiêu chí và yêu cầu vận hành của mô hình CQĐT trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam.
- Phân tích, luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan của việc phân định giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn trên cơ sở kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.
- Cung cấp luận cứ khoa học về cơ chế phân quyền, tự quản và tự chịu trách nhiệm của chính quyền đô thị loại đặc biệt trong việc điều hành kinh tế - xã hội và tài chính công.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Chỉ ra một cách có hệ thống những bất cập, xung đột thẩm quyền và điểm nghẽn thể chế của mô hình tổ chức chính quyền 3 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh theo khung pháp luật hiện hành.
- Đánh giá toàn diện các giai đoạn thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường và sự phát triển của các phương án tổ chức CQĐT tại TP.HCM (từ mô hình 4 thành phố vệ tinh năm 2012 đến mô hình Thành phố Thủ Đức năm 2019).
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể với Trung ương về phân cấp, ủy quyền trên 5 lĩnh vực cốt lõi (tài chính công, pháp luật, nhân sự, quy hoạch - đầu tư, xử lý vi phạm hành chính), làm cơ sở xây dựng mô hình CQĐT hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng tập trung từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án, các đánh giá chủ yếu dựa trên khung khổ của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 và các đề án thí điểm đang trong quá trình điều chỉnh.
- Các số liệu khảo sát và phỏng vấn chuyên gia tập trung chủ yếu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tính đại diện để mở rộng cho các đô thị trực thuộc trung ương khác cần có thêm nghiên cứu so sánh chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng hiệu quả vận hành thực tế của mô hình chính quyền thành phố thuộc thành phố (Thành phố Thủ Đức) sau khi đi vào hoạt động chính thức.
- Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và phương thức bảo đảm quyền đại diện, làm chủ của nhân dân khi không tổ chức HĐND ở cấp quận, phường.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Là căn cứ khoa học và thực tiễn trực tiếp cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Thành ủy và UBND Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện thể chế CQĐT.
- Cán bộ, công chức thực tiễn: Giúp đội ngũ lãnh đạo, quản lý tại Thành phố Hồ Chí Minh và các quận, huyện, phường nắm vững cơ chế phân cấp, ủy quyền, thẩm quyền chỉ đạo điều hành và phương thức cung ứng dịch vụ công.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Là nguồn tư liệu hệ thống cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành Chính trị học, Khoa học hành chính, Luật học (Luật Hiến pháp, Luật Hành chính) và Khoa học lãnh đạo quản lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án thuộc chuyên ngành nào và giải quyết vấn đề trọng tâm gì?
Luận án thuộc chuyên ngành Chính trị học. Vấn đề trọng tâm của luận án là xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị phù hợp với các đặc thù kinh tế, xã hội và thể chế tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Sự khác biệt căn bản giữa Đề án CQĐT Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 và Đề án năm 2019 là gì?
- Đề án năm 2012: Đề xuất thành lập 04 thành phố vệ tinh trực thuộc gồm Thành phố Đông (Quận 2, Quận 9, Thủ Đức), Thành phố Tây (Quận Bình Tân, một phần Quận 8 và Bình Chánh), Thành phố Nam (Quận 7, Nhà Bè, một phần Quận 8 và Bình Chánh) và Thành phố Bắc (Quận 12, Hóc Môn).
- Đề án năm 2019: Tinh gọn thành mô hình tổ chức 01 cấp chính quyền (cấp thành phố) và 02 cấp hành chính (quận/huyện và phường/xã/thị trấn); chỉ thành lập 01 thành phố trực thuộc phía Đông là Thành phố Thủ Đức trên cơ sở sáp nhập Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức, đồng thời không tổ chức HĐND cấp quận, huyện, phường.
3. Quy định về số lượng đại biểu HĐND Thành phố Hồ Chí Minh theo Luật Tổ chức CQĐP 2015 có điểm gì đặc thù?
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, các thành phố trực thuộc trung ương có trên 1 triệu dân được bầu tối đa không quá 95 đại biểu HĐND; riêng hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bầu tối đa 105 đại biểu. HĐND thành phố thành lập 4 Ban chuyên trách gồm: Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - ngân sách, Ban Văn hóa - xã hội và Ban Đô thị.
4. Cơ chế đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết Quốc hội khóa XIV quy định những thẩm quyền nào?
Nghị quyết quy định thí điểm 5 nhóm cơ chế:
- Quản lý đất đai: HĐND thành phố quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên.
- Quản lý đầu tư: HĐND quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A sử dụng ngân sách thành phố.
- Tài chính - ngân sách: Đề xuất tăng mức thuế hoặc thuế suất tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường không quá 25%.
- Cơ chế ủy quyền: Chủ tịch UBND thành phố ủy quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn.
- Thu nhập CBCC: Chi thu nhập tăng thêm theo hiệu quả công việc tối đa 1,8 lần mức lương ngạch bậc, chức vụ và quy định thu nhập cho chuyên gia, nhà khoa học.
Kết luận
Luận án "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước tại đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. Tác giả đã kết hợp phương pháp luận Mác - Lênin với các kỹ thuật phân tích thể chế, khảo sát thống kê và phỏng vấn chuyên gia để làm sáng tỏ các điểm nghẽn của mô hình chính quyền hiện hành. Luận án đã hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ năm 1945, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá sâu sắc các giai đoạn thí điểm thể chế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các đề xuất về tinh gọn bộ máy, phân cấp mạnh mẽ 5 lĩnh vực quản lý nhà nước và thành lập thành phố thuộc thành phố là những đóng góp có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam.