Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Ở nước ngoài các công trình nghiên cứu về CQĐT đã được tiến hành trong nhiều thập kỷ qua, thậm chí đã trở thành những ngành khoa học độc lập gọi là “đô thị học”, “kinh tế học đô thị”, “hành chính học đô thị”… Các nghiên cứu thường tiếp cận dưới góc độ phân bổ không gian kiến trúc đô thị, nghiên cứu về tổ chức chính quyền đô thị, về đảm bảo cung ứng dịch vụ công ở đô thị… Tùy theo thiết kế mô hình tổ chức của hệ thống chính trị mà các nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị tương thích. Trong phạm vi nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: - Những nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết về phát triển đô thị Khảo sát khuôn khổ lý thuyết đô thị qua các thành phố lớn, Ash, và Nigel Thrift trong công trình nghiên cứu Các thành phố: Tạo phong cách mới cho đô thị.: Polity, 2002) [111] đã cho thấy việc xây dựng một mô hình chính quyền theo hướng kết hợp các chuỗi đô thị là nhân tố quan trọng để thúc đẩy hình thành không gian sống, cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công của chính quyền cho người dân. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra thách thức mà quá trình hình thành các chuỗi đô thị lớn gặp phải đó là tình trạng ô nhiễm, năng lực quản lý, tính tự quản và mối quan hệ với chính quyền trung ương cũng như năng lực tài chính để phát triển các đô thị dạng này.
Cũng tiếp cận dưới góc độ này, tác giả Brenner, Neil, David J. Madden, và David Wachsmuth (2010), trong công trình nghiên cứu Đô thị học về hiện tượng tụ tập và các thách thức của lý thuyết chủ chốt về đô thị, (Tạp chí Thành phố (City) 15, no. 2: 225 – 40) [114] đã cho thấy việc hình thành các đô thị lớn là cần thiết nhưng nó cũng gặp không ít các thách thức đó là năng lực cung ứng dịch vụ công đô thị (thu gom rác thải, nước sinh hoạt, trường học…) và tình trạng tội phạm ở đô thị; nghiên cứu của Soja, Edward (2000) trong cuốn Hậu 11 thủ phủ: Các nghiên cứu chính về thành phố và vùng (Oxford: Blackwell) [134] đã chỉ ra rằng việc phát triển các siêu đô thị là thách thức lớn đối với năng lực quản lý của chính quyền. Các lý thuyết về đô thị hết sức đa dạng và thậm chí xung đột nhau giữa các mô hình tổ chức đô thị.
Simon Parker (2015) trong nghiên cứu Urban Theory and the Urban Experience: Encountering the city (University Oxford press) [134] đã cho thấy việc tập trung các chuỗi đô thị lớn chưa hẳn là tốt, đặc biệt là khi chưa có sự đồng thuận của người dân, sự thay đổi mô hình sản xuất và thói quen không phải là điều dễ dàng. Lấy trường hợp của nước Anh, K. Newton (1984) trong nghiên cứu Urban System Theory, and Urban Policy and Expenditures in England and Wales (European Journal of Political Research, Volume 12, Issue 4, pages 357–369) [127] đã chỉ ra tính truyền thống và sự bảo thủ trong mô hình tổ chức cư dân đô thị ở một số vùng thuộc Anh. Cũng liên quan đến chủ đề này còn có các nghiên cứu của: J.
Molotch, Urban Fortunes (Berkeley: University of California Press, 1987)., The Government of World Cities:The Future of the MetroModel (New York: John Wiley and Sons, 1995) [124]. Dân cư tập trung nhiều ở các đô thị lớn là xu hướng phát triển ở nhiều quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, việc lựa chọn hệ thống mô hình tổ chức chính quyền phù hợp là nhân tố để quản trị đô thị hiệu quả. Brenner, Neil, và Christian Schmid (2012) trong nghiên cứu Đô thị hóa toàn cầu (in trong Chòm sao đô thị [115, tr.10 - 13] và Berlin: Jovis. Nghi vấn về thời đại đô thị - Cambridge) [114] đã chỉ ra các thách thức và cơ hội của xu hướng tập trung đông dân cư mà các quốc gia phải vượt qua.
Cũng dưới góc độ này còn có nghiên cứu của Burdett, Ricky, và Deyan Sudjic (2006) trong cuốn Thành phố vô tận: Dự án thời đại đô thị (London School of Economics và Deutsche Bank’s Alfred Herrhausen Society phát hành, London: Phaidon) [117] và cuốn Những tụ tập tại đô thị: Lý thuyết mạng nhân tố hành dộng đã thay đổi nghiên 12 cứu đô thị ra sao của Farías, Ignacio và Thomas Bender (New York: Routledge, 2010) [120]. Thủ đô Tokyo của Nhật Bản là một trong những mẫu hình thành công trong tổ chức chính quyền đô thị hiện đại. Các nghiên cứu đã tổng kết về sự thành công của Nhật Bản bắt nguồn từ các yếu tố: Thứ nhất, cần phải cầu trúc chính quyền tại chỗ và cấp vùng miền sao cho đảm bảo hiệu quả quy hoạch siêu đô thị, sự hợp tác và sự phát triển. Thứ hai, cần tổ chức phân bổ dịch vụ công sao cho hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và công bằng.
Thứ ba, cần phát triển xã hội dân sự và đảm bảo rằng, chính quyền tại chỗ và cấp vùng đáp ứng các khát vọng dân chủ. Một trong những yếu tố quan trọng của chính quyền đô thị Tokyo đó là phân quyền mạnh mẽ cho địa phương; đảm bảo tự chủ trong các vấn đề cung ứng dịch vụ công mà khu vực tư nhân có thể đảm nhận. Liên quan đến vấn đề này có thể kể đến các công trình nghiên cứu của: Akira Nakamura, “Cải cách hành chính kiểu Nhật - Phi tập trung hóa quyền lực Trung ương: một só sánh xuyên quốc gia” (in trong Các thách thức tương lai của tự trị địa phương ở Nhật, Hàn quốc và Mỹ, Tokyo; Nxb. National Institute for Research Advancement, 1997) [113]; Kurt Steiner, Chính quyền địa phương ở Nhật (Stanford, CA: StanfordUniversity Press, 1965) [121]; Kimihiko Kitamura, “Chính quyền địa phương ở Nhật” (in trong sách Dân chủ ở cấp địa phương: một nghiên cứu so sánh về chính quyền địa phương, Margaret Bowman và William Hampton, biên soạn., 1983); Hiromi Muto, “Chiến lược của cải cách hành chính ở Nhật” (trong Các thách thức tương lai của tự trị địa phương ở Nhật, Hàn quốc và Mỹ, Tokyo; Nxb.
National Institute for Research Advancement, 1997); Nobuo Sasaki, “Nghiên cứu lãnh đạo về chính trị trong chính quyền Thủ đô Tokyo: tìm tòi mô hính lý tưởng về phi tập trung hóa ở Nhật” (Tạp chí International Review of Administrative Sciences, số 64 (1998), tr. Smith, Tiếng nói địa phương, Chủ đề quốc gia: Dấu ấn của địa phưong trong hoạch định chính sách của Nhật (tập 13 hợp công trình nghiên cứu Nhật của đại học Michigan. No 31 ((Ann Arbor: Trung tâm nghiên cứu Nhật, Đại học Michigan, 2000) [133]; Yasuo Miyakawa, “Nhật Bản: hướng tới Nhóm siêu đô thị tầm thế giới và quan hệ quốc tế đa hình thái” (Ekiatics 340, No. 48-75) [136]; Yousuke Isozaki, Chính quyền địa phương ở Nhật (Tokyo,NXB Local Autonomy College, 1997) [137]; Junshichiro Yonehara, “Quan hệ về tài chính giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương”, (in trong Khu vực hành chính công Nhật Bản: Chính quyền được cấp ngân sách ra sao (Japan’s Public Sector: How the Government is Financed, Tokyo, NXB University of Tokyo Press, 1993) [139]… - Nghiên cứu CQĐT dưới góc độ giải quyết các vấn đề đô thị Cùng với tổ chức chính quyền đô thị, giải quyết các vấn đề xã hội đô thị là mối quan tâm lớn trong nhiều nghiên cứu.
Điển hình có thể kể đến nhà xã hội học đô thị thuộc Đại học Chicago Louis Wirth, trong các nghiên cứu của mình (Wirth, Louis, Đô thị hóa như một cách sống, in trong Các tiểu luận kinh điển về văn hóa của các thành phố, Richard Sennett biên soạn, 143 - 64. Prentice- Hall) [140] ông đã phác họa một khuôn khổ có tính phân tích về đô thị học dưới góc độ xã hội học như: quy mô dân số đông, mật độ dân số cao và cấp độ cao của tính đa dạng của các sắc tộc, tôn giáo. Đối với Wirth, sự cùng chung sống trong cùng không gian đô thị với sự đa dạng về kết cấu xã hội là lợi thế nhưng cũng là thách thức trong quản lý xã hội. Wirth đã chỉ ra, đầu thế kỷ 21, đô thị rõ ràng đã trở thành một biểu thị hiển hiện cho tinh hoa, đây là nơi thu hút, tập trung các thành phần ưu tú trong xã hội, tạo ra động lực dẫn dắt, do đó, trong các chính sách phát triển đô thị cũng cần phải chú ý đến sự phân tầng xã hội giữa nông thôn và đô thị.
Quá trình đô thị hóa ngày một mở rộng quy mô đang tạo ra một bức tranh đa dạng của đô thị, mà thay vì chỉ kết nối đơn giản bên trong các nút, hay đơn thuần hạn chế trong ranh giới các vùng, nó đang đan kết một cách đều đặn và ngày một dày đặc hơn dọc xuyên qua khắp hang cùng ngõ hẻm trên thế giới. Một hình dạng 14 như thế không thể nắm bắt được thích đáng nhờ vào những quan niệm truyền thống về tính thành thị (cityness), về tính thủ đô (metropolitanism), hoặc về tính chất kép thành thị - nông thôn, những gì trước đây gợi một sự chia tách mạch lạc theo khu vực của các cách định cư [140]. Trong nghiên cứu Innovation Managemnt in Local Gorernment: An Emprical Anylysis of Suburban Municipalities các tác giả Kimberly L. Wood and Gerald T.
Gabris [124] đã chỉ ra những thách thức của thành phố Chicago cần vượt qua trên cả phương diện nhân sự và cung ứng dịch vụ công. Mô hình tổ chức chính quyền đô thị là cần thiết để tăng cường năng lực quản trị đô thị, việc thiết lập mô hình phù hợp sẽ góp phần giải quyết các các vấn đề đô thị. Tuy nhiên, đây là vấn đề nan giải, các tác giả đã đưa ra yêu cầu phân cấp mạnh mẽ cho các tổ chức xã hội dân sự và doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ công của đô thị. Nhóm tác giả khẳng định, nếu không có sự phân cấp, ủy quyền thì sẽ vượt quá khả năng đáp ứng của chính quyền độ thị trên cả phương diện nhân sự và nguồn lực.
- Nghiên cứu CQĐT góc độ mô hình, cách thức tổ chức chính quyền Trong nghiên cứu "Forms and Structure of Municipal Government in the United States" tác giả Barnes, William R. (1991) [116] đã chỉ ra các mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Qua khảo sát ở Mỹ, tác giả đã chỉ ra những mô hình chủ yếu như: Mô hình Giám đốc - hội đồng: Đặc điểm của mô hình này là: (1). Hội đồng thành phố giám sát hành chính tổng thể, hoạch định chính sách, lập ngân sách; (2).
Hội đồng bổ nhiệm một người quản lý thành phố chuyên nghiệp để thực hiện các hoạt động hành chính hằng ngày; (3).