CHƯƠNG 1: KIẾN TRÚC IMS 1. Giới thiệu chung IMS không được chuẩn hoá theo các nút mà dựa trên chức năng. Điều này có nghĩa là kiến trúc IMS là một tập hợp các chức năng được liên kết với nhau bởi các giao diện. Các chức năng có thể được kết hợp lại trong một nút hoặc một chức năng thể được tách ra thực hiện trong 2 nút hoặc nhiều hơn.
Thông thường các nhà cung cấp thường thực hiện một chức năng trong mỗi nút riêng lẻ. MRFC SIP-AS OSA-SCS IM-SSF Access Network ISC ISC ISC MRFP Cx P-CSCF HSS S-CSCF Dx Cx SLF SGW Acess Network Dx P-CSCF I-CSCF BGCF MGCF MGW Hình 1: Tổng quan kiến trúc IMS Hình vẽ thể hiện tổng quan kiến trúc IMS. Trong hình vẽ này các giao diện báo hiệu trong IMS được thể hiện bằng hai hoặc ba chữ cái. Bên phải của hình vẽ là các thiết bị IMS.
Phía dưới là thiết bị di động IMS thường được gọi là thiết bị người dùng UE. Thiết bị đầu cuối IMS kết nối tới mạng chuyển mạch gói thông qua liên kết vô tuyến. IMS đồng thời 15 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS cũng hỗ trợ các kiểu truy nhập và các thiết bị khác như PDA (Personal Digital Assistant) và máy tính. Các thiết bị này có thể truy nhập qua ADSL hoặc WLAN.
Phần còn lại của hình vẽ chỉ ra các nút chức năng khác trong kiến trúc lõi của IMS bao gồm: + Cơ sở dữ liệu người dùng: HSS (Home Subcriber Servers) và SLF (Subcriber Location Function). + Chức năng điều khiển phiên/ cuộc gọi: CSCF (Call /Sesion Control Function) + Chức năng liên quan đến nguồn media: MRF (Media Resource Fuction) bao gồm bộ điều khiển chức năng nguồn media MRFC (Media Resource Function Controller) và bộ xử lý chức năng nguồn media MRFP (Media Resource Function Processor). + PSTN gateway bao gồm SGW (Signalling Gateway), MGCF (Media Gateway Controller Function) và MGW (Media Gateway). Chức năng điều khiển phiên/cuộc gọi CSCF(Call/Session Control Function) CSCF là một SIP server.
Nó là thành phần cơ bản nhất trong kiến trúc IMS. CSCF xử lý báo hiệu SIP. Có ba kiểu khác nhau của CSCF: + Proxy-CSCF (P-CSCF) + Serving-CSCF (S-CSCF) + Interrogating-CSCF (I-CSCF) 16 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS Mỗi CSCF có những chức năng đặc biệt của chúng. Tất cả góp phần tạo thành bộ máy định tuyến bản tin SIP.
Ngoài ra chúng có thể gửi các thông tin tính cước tới chức năng tính cước ngoại tuyến. P-CSCF 2 P-CSCF là điểm liên lạc đầu tiên giữa thiết bị đầu cuối và mạng IMS. Trong mô hình của SIP thì P-CSCF đang làm việc như một oubound/inbound SIP proxy server. Tất cả các bản tin SIP được khởi tạo bởi một thiết bị đầu cuối IMS hoặc gửi đến thiết bị đầu cuối IMS đều phải đi qua P-CSCF.
P- CSCF chuyển tiếp các bản tin SIP: yêu cầu và hồi đáp theo các hướng phù hợp hoặc là đi tới thiết bị IMS hoặc là tới mạng IMS. P-CSCF được chỉ định cho các thiết bị đầu cuối IMS trong quá trình đăng ký và không thay đổi trong quá trình này. P-CSCF bao gồm nhiều chức năng khác nhau và một trong số chúng liên quan tới bảo mật. Nó thiết lập một số liên kết đảm bảo IPsec với các thiết bị đầu cuối IMS.
Những liên kết bảo mật IPsec này đảm bảo sự toàn vẹn thực thể, ví dụ như khả năng để dò tìm nội dung của bản tin có bị thay đổi từ khi nó được tạo ra hay không. Một khi P-CSCF đã chứng thực người dùng (như là một phần của sự thiết lập liên kết bảo mật) thì các nút khác trong mạng không cần phải thực hiện các chứng thực người dùng khác nữa vì chúng tin tưởng vào P-CSCF. Sự xác nhận của P-CSCF còn có các chức năng khác như cung cấp các dịch vụ cho các cá nhân và các bản ghi tính cước. Một chức năng khác nữa của P-CSCF là chúng kiểm tra sự chính xác của bản tin SIP yêu cầu được gửi bởi thiết bị đầu cuối IMS.
Chức năng này giúp ngăn chặn các thiết bị đầu cuối gửi các bản tin SIP không chính xác. 2 Tham khảo từ “The IMS: IP Multimedia Concepts and Services in the Mobile Domain”. 17 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS P-CSCF bao gồm một bộ phận nén và giải nén các bản tin SIP (thiết bị đầu cuối IMS cũng bao gồm chức năng này). Bản tin SIP đôi khi có thể rất lớn.
Trong khi gửi một bản tin qua một kết nối băng thông rộng chỉ mất một thời gian ngắn thì việc gửi một bản tin SIP qua một kênh băng thông hẹp, như một kết nối vô tuyến chẳng hạn, sẽ mất một vài giây. Cơ chế dùng để rút ngắn thời gian truyền một bản tin là nén bản tin lại, truyền qua liên kết vô tuyến và giải nén bên phía nhận. P-CSCF có thể bao gồm một PDF. PDF cấp quyền sử dụng media và quản lý QoS trên mặt phẳng media.
P-CSCF đồng thời tạo ra các thông tin tính cước tới các nút thu thập thông tin tính cước. Với mục đích mở rộng và tạo ra dư thừa để dự phòng thông thường trong một mạng IMS có nhiều P-CSCF. Mỗi một P-CSCF phục vụ một số thiết bị đầu cuối IMS phụ thuộc vào dung lượng của nó. P-CSCF có thể được đặt tại mạng khách hoặc mạng chủ.
Trong trường hợp mạng chuyển mạch gói dựa trên GPRS thì P-CSCF luôn đặt trong cùng một mạng với GGSN. Vì vậy GGSN và P-CSCF có thể cùng đặt tại mạng khách hoặc tại mạng chủ. I-CSCF3 I-CSCF là SIP proxy được đặt tại biên của miền quản trị. Địa chỉ của I- CSCF luôn được liệt kê trong các bản ghi DNS của miền.
Khi một SIP server tuân theo các thủ tục SIP để tìm chặng SIP tiếp theo cho một bản tin SIP sẽ nhận được địa chỉ của I-CSCF trong miền đích. Ngoài chức năng là một SIP server, I-CSCF còn có một giao diện tới SLF và HSS. Giao diện này dựa trên giao thức Diameter. Qua giao diện này I- 3 Tham khảo từ “The IMS: IP Multimedia Concepts and Services in the Mobile Domain”.
18 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS CSCF truy vấn các thông tin về vị trí của người dùng và định tuyến các bản tin SIP tới địa chỉ phù hợp. I-CSCF còn có chức năng mã hóa một phần bản tin SIP đang chứa đựng những thông tin nhạy cảm về miền, như số lượng các server trong miền, tên DNS và dung lượng của chúng. Một mạng IMS thường bao gồm nhiều I-CSCF cho mục đích mở rộng và tạo dư thừa. I-CSCF thường nằm tại mạng chủ, mặc dù trong một số trường hợp đặc biệt nó có thể được đặt tại mạng khách.
S-CSCF4 S-CSCF là nút trung tâm trong mặt phẳng báo hiệu. Ngoài chức năng là một SIP server, S-CSCF còn đóng vai trò là một SIP registrar. Nó duy trì một gắn kết giữa vị trí của người dùng (như địa chỉ IP của thiết bị đầu cuối mà người dùng đăng nhập) và địa chỉ SIP của người dùng trong bản ghi. Giống như I-CSCF, S-CSCF cũng đồng thời thực hiện giao diện tới HSS để thực hiện các mục đích sau: + Tải về các vector chứng thực của người dùng đang truy nhập vào mạng.
S-CSCF sử dụng các vector này để chứng thực người dùng. + Tải về hồ sơ người dùng từ HSS. Hồ sơ người dùng bao gồm hồ sơ dịch vụ. + Thông báo cho HSS rằng S-CSCF này sẽ phục vụ người dùng trong khoảng thời gian đăng ký.
Tất cả báo hiệu SIP mà thiết bị đầu cuối IMS gửi và nhận đều đi qua S- CSCF. S-CSCF giám sát từng bản tin SIP và quyết định xem báo hiệu SIP sẽ đi qua một hay nhiều server ứng dụng hoặc để định tuyến tới đích cuối cùng. 4 Tham khảo từ “The IMS: IP Multimedia Concepts and Services in the Mobile Domain”. 19 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS Một trong những chức năng chính của S-CSCF là cung cấp chức năng định tuyến bản tin SIP.
Nếu một người dùng quay một số điện thoại thay vì một SIP URI thì S-CSCF cung cấp dịch vụ chuyển đổi địa chỉ, thường dựa trên DNS E. S-CSCF đồng thời thi hành các chính sách của nhà điều hành mạng. Ví dụ một người dùng không có quyền để thiết lập một loại phiên cụ thể như phiên video chẳng hạn. Nói cách khác, S-CSCF ngăn chặn người dùng thực hiện những dịch vụ không được cho phép.
S-CSCF luôn luôn nằm tại mạng chủ. Cơ sở dữ liệu HSS và SLF5 HSS và SLF là hai cơ sở dữ liệu chính trong kiến trúc IMS. HSS lưu trữ dữ liệu cho tất cả các thuê bao và tất cả dữ liệu liên quan đến dịch vụ của IMS. Dữ liệu được lưu trữ trong HSS bao gồm nhận dạng, thông tin đăng ký thuê bao, tham số truy nhập và thông tin kích hoạt dịch vụ.
Thông tin nhận dạng gồm có hai loại: nhận dạng người dùng công cộng và nhận dạng người dùng cá nhân. Nhận dạng người dùng cá nhân được sử dụng cho mục đích đăng ký và cấp quyền, trong khi đó nhận dạng người dùng công cộng được người dùng sử dụng để liên lạc với những người dùng khác. Các tham số truy nhập IMS được khởi tạo để thiết lập một phiên và bao gồm các thông số giống như chứng thực người dùng, cấp quyền chuyển vùng và tên của S-CSCF phụ trách người dùng. Thông tin kích hoạt dịch vụ cho phép thực hiện các dịch vụ SIP.
HSS cũng bao gồm một số các chức năng của bộ đăng ký vị trí chủ (HLR) và trung tâm nhận thực (AuC). 5 Tham khảo “The IMS: IP Multimedia Concepts and Services in the Mobile Domain”. 20 Phát triển một sô dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ IMS Chức năng HLR/AuC cho Chức năng IP multimedia miền chuyển mạch kênh Chức năng HLR/AuC cho HSS miền chuyển mạch gói Hình 2: Cấu trúc của HSS Chức năng HLR hỗ trợ các thực thể trong miền chuyển mạch gói như SGSN và GGSN. Điều này cho phép các thuê bao truy nhập tới các dịch vụ trong miền chuyển mạch gói.
HLR đồng thời cũng hỗ trợ các thực thể trong miền chuyển mạch kênh như MSC/MSC servers. Điều này cũng cho phép các thuê bao có thể truy nhập các dịch vụ trong miền chuyển mạch kênh và hỗ trợ chuyển vùng tới những mạng có miền chuyển mạch kênh. AuC lưu trữ chìa khóa bí mật cho mỗi một thuê bao di động. Chìa khóa này được sử dụng để tạo ra dữ liệu bảo mật linh động cho mỗi một thuê bao.
Dữ liệu được sử dụng cho sự nhận thực lẫn nhau giữa mạng và IMSI (International Mobile Subscriber Identity).