Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật. Chương 3: Mạch lạc theo quan hệ không gian trong thơ Phạm Tiến Duật. 4 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Lý thuyết về mạch lạc 1.1 Quan niệm về mạch lạc: Mạch lạc là một phạm trù gắn liền với bộ môn ngôn ngữ học văn bản. Nghiên cứu văn bản học không thể tách rời việc nghiên cứu các nhân tố tạo nên nó.
Bởi vậy, cùng với khái niệm liên kết, mạch lạc được tập trung nghiên cứu khá sâu. Trong lịch sử Ngôn ngữ học, khái niệm mạch lạc được hình thành và nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, khái niệm này được nghiên cứu sôi nổi ở Việt Nam. Đến nay, mạch lạc đã trở thành một khái niệm quan trọng, chuyên sâu trong ngôn ngữ học văn bản trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Mặc dù mạch lạc là một khái niệm khá quen thuộc và là đối tượng chính của ngôn ngữ học văn bản nhưng vẫn còn khá nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này. Các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về mạch lạc. Ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, mỗi người lại có những nhận định riêng của mình về khái niệm này. Vì các quan niệm về mạch lạc đa dạng như vậy, nên dưới đây, chúng tôi chỉ đưa ra và phân tích một số quan niệm tiêu biểu về mạch lạc.
Với một cách nhìn dung dị và đơn giản, David Nuan cho rằng: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan tới nhau” [32, tr. “Tầm rộng” ở đây chính là phạm vi hàm chứa mạch lạc. Đó có thể là một văn bản dài, ngắn khác nhau, một đoạn văn, một số câu, hay một đoạn hội thoại có quan hệ “mắc vào nhau”. Tác giả không chỉ ra biểu hiện cụ thể“mắc vào nhau” là như thế nào nhưng có thể hiểu chung rằng nó có liên quan đến nhau, phụ thuộc và chi phối nhau chứ không phải là “một tập hợp 5 câu và phát ngôn không liên quan đến nhau”.
Định nghĩa đã nêu được bản chất mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản, từ đó tạo nên tính văn bản của mỗi văn bản đích thực. Bách khoa thư ngôn ngữ và Ngôn ngữ học lại đưa ra cách hiểu cụ thể và chuyên sâu hơn về mạch lạc: “Mạch lạc là sự nối kết có tính logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể, … lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với nhau hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết)” [2; tr10]. So với định nghĩa của David Nuan thì định nghĩa này cụ thể hơn khi quan niệm “mắc bằng nhau” là sự “kết nối có tính logic”. Mặc dù, cách nói khác nhau nhưng hai định nghĩa này đều có nét trùng hợp nhau.
Cả hai định nghĩa đều thừa nhận sự quan hệ, phụ thuộc nhau giữa các thành phần cấu tạo văn bản khi khẳng định chúng “có mắc vào nhau” hay “là sự kết nối có tính logic”. Điểm khác của định nghĩa này so với định nghĩa của David Nuan là nó không những chỉ ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo văn bản mà còn chỉ ra bản chất của mạch lạc trong tương quan với liên kết; bởi các thành phần cấu tạo văn bản luôn “lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết)”. Một văn bản bao gồm các câu có mối quan hệ hình thức liên quan với nhau, mắc vào nhau chưa hẳn đã tạo ra mạch lạc. Mạch lạc phải là bản chất chiều sâu bên trong mỗi văn bản thông qua quan hệ logic, ngữ nghĩa.
Quan tâm đến vai trò của mạch lạc đối với văn bản, - K.Wales cho rằng: “Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay tính ban đầu của một văn bản: Không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực” [23;tr9].Wales không đi sâu vào bản chất của mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản. Nói cách khác, ông không tập trung vào việc làm thế nào để có mạch lạc mà ông nhấn mạnh đến vai trò của mạch lạc đối với văn bản. Nó là “điều kiện ban đầu”, “tính ban đầu” của một 6 văn bản. Vai trò của mạch lạc đối với văn bản quan trọng đến mức: “không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực”.
Ở một góc độ tiếp cận khác, Nguyễn Thị Thìn có sự phát triển cụ thể hơn về quan niệm mạch lạc: “Mạch lạc được hiểu là logic của sự trình bày. Logic của sự trình bày có quan hệ chặt chẽ với logic khách quan, logic nhận thức nhưng không đồng nhất. Bởi nó còn là kết quả của ý đồ, chiến lược giao tiếp của chủ thể tạo lập văn bản. Nó còn được hình thành trong quan hệ với các quy tắc giao tiếp, với phong cách và thể loại của từng văn bản…Do vậy, người ta có nói tới đặc trưng mạch lạc của từng thể loại văn bản, nét đặc thù về mạch lạc của từng văn bản thuộc cùng thể loại” [27;tr46].
Ở định nghĩa này, mạch lạc cũng được khai thác trên khía cạnh về mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản, nhưng tác giả còn mở rộng thêm về khía cạnh phong cách và dụng học đối với mạch lạc. Nếu như Bách khoa thư ngôn ngữ và Ngôn ngữ học chỉ nói đến mối liên hệ logic chung chung trong mối quan hệ giữa các thành tố cấu tạo văn bản thì Nguyễn Thị Thìn lại có cái nhìn sâu hơn khi nhấn mạnh đến “logic của sự trình bày”. Logic trình bày mặc dù có quan hệ chặt chẽ với logic khách quan, logic nhận thức nhưng nó không trùng khớp mà nó phụ thuộc vào “quy tắc giao tiếp, với phong cách và thể loại của từng văn bản” .Chẳng hạn, thời gian vật lý trong thế giới khách quan luôn tiến triển theo trình tự từ trước đến sau nhưng trong văn bản nghệ thuật có thể thời gian đó đảo chiều theo quan hệ hỗn hợp không theo trình tự đó. Mặt khác, mạch lạc trong văn bản hành chính – sự vụ sẽ khác với mạch lạc trong văn bản nghệ thuật, mạch lạc trong văn xuôi sẽ khác mạch lạc trong thơ, ….
Trong cái nhìn so sánh giữa mạch lạc với liên kết, Diệp Quang Ban tổng kết rằng: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu – phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch 7 lạc” [23, tr10]. Mạch lạc và liên kết là hai khái niệm gắn liền với Ngôn ngữ học văn bản. Chúng có mối quan hệ qua lại và chung một phần nội hàm; bởi vậy, giữa mạch lạc và liên kết thường có sự nhầm lẫn. Định nghĩa về mạch lạc trong cái nhìn so sánh với liên kết là một cách để Diệp Quang Ban một mặt nêu được bản chất của từng thể loại, mặt khác phân biệt hai khái niệm dễ nhầm lẫn này.
Theo ông, cách hiểu phổ biến nhất hiện nay là liên kết thuộc về phần nổi của bề mặt văn bản, được thể hiện qua các từ ngữ trực tiếp thể hiện các quan hệ liên kết; còn mạch lạc thuộc về bề sâu trong văn bản, được thể hiện qua “ý nghĩa giữa các câu”. Qua các định nghĩa đã dẫn trên, ta thấy mạch lạc là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt. Bởi vậy, Diệp Quang Ban đã nhận xét rằng: “khó giảng giải thế nào là mạch lạc nhưng dễ cảm nhận khi thiếu vắng nó” [6, tr62]. Chính đây là nguyên nhân dẫn đến việc có rất nhiều định nghĩa khác nhau về mạch lạc.
Mặc dù, các cách hiểu về mạch lạc đa dạng như vậy, nhưng có thể tóm lại một số nét đặc trưng cơ bản về mạch lạc như sau: - Mạch lạc là yếu tố tiên quyết, quan trọng hàng đầu để tạo nên văn bản. Thiếu mạch lạc, một văn bản không thể là một văn bản đích thực. - Mạch lạc được biểu hiện qua mối quan hệ móc xích, ràng buộc, chi phối lẫn nhau về mặt nghĩa giữa các thành phần tham gia cấu tạo văn bản nhằm hướng tới thể hiện chủ đề chung. - Mạch lạc được chi phối bởi quy tắc giao tiếp, ngữ cảnh, phong cách chức năng,.
và phong cách cá nhân của người sáng tạo ra văn bản.2 Một số biểu hiện của mạch lạc: Như trên đã nói, bản chất của mạch lạc là mối quan hệ qua lại, ràng buộc nhau giữa các thành phần tham gia cấu tạo văn bản. Nhưng mối quan hệ đó được biểu hiện cụ thể như thế nào thì ngay trong mỗi định nghĩa khó có thể nêu đầy đủ. Các nghiên cứu gần đây đã giúp chúng ta thấy rõ hơn những biểu hiện phong phú của mạch lạc. Từ đó, chúng góp phần củng cố cơ sở lý 8 thuyết về mạch lạc và giảm dần yếu tố mơ hồ, khó nắm bắt của thuật ngữ này.
Dưới đây là một số quan niệm về biểu hiện của mạch lạc: 1.1 Biểu hiện của mạch lạc theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Ngọc Thêm không dùng khái niệm “mạch lạc” mà dùng khái niệm “liên kết nội dung” [25]. Tuy vậy, phát hiện của ông về liên kết nội dung đã tạo cơ sở khơi nguồn cho những nghiên cứu về mạch lạc. Theo ông, liên kết nội dung gồm hai bình diện là: liên kết chủ đề và liên kết logic. Liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những phần nêu của các phát ngôn.
Hai phát ngôn có thể coi là liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đối tượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau. Khác với liên kết chủ đề, liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức phần báo. Nó là một bình diện “sâu” hơn liên kết nội dung, mang tính ngữ nghĩa nhiều hơn, và cũng phụ thuộc vào những nhân tố ngoài ngôn ngữ nhiều hơn.” Theo tác giả, liên kết chủ đề là một sợi dây xuyên suốt, xâu chuỗi các phần nêu bộ phận lại với nhau, còn liên kết logic là sợi dây khác xâu chuỗi các phần báo bộ phận với nhau.