phần Mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1. Một số vấn đề chung Chƣơng 2. Đặc trưng của văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính Chƣơng 3. Quan niệm nghệ thuật biểu hiện những nét văn hóa trong thơ Nguyễn Bính 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Văn hóa làng quê Văn hóa là khái niệm chỉ toàn bộ các giá trị vật chất cũng như tinh thần của một dân tộc, một cộng đồng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [30; Tr. Vai trò và vị trí của văn hóa đối với văn học là vô cùng to lớn, ngày nay văn hóa thâm nhập và phát triển vào nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ở đây chúng ta tìm hiểu và giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học, nghĩa là nghiên cứu một nội dung trong tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa. Văn học có vai trò to lớn trong việc bảo lưu và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống cũng như hiện đại: “Văn học là sự tự ý thức văn hóa.
Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc. Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [7; Tr. Việc nghiên cứu và giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học được tiến hành như sau: Đặt văn học trong một bối cảnh văn hóa rộng lớn và nghiên cứu xem tác phẩm văn học ấy có những giá trị văn hóa nào, sắc thái văn hóa nào… được thể hiện ở từng khía cạnh nội dung trong tác phẩm ấy.
Văn hóa làng quê là một khái niệm nhằm tôn vinh những giá trị đặc sắc về làng quê, về con người và cảnh sắc ở làng quê gắn liền với tinh hoa văn hoá văn nghệ truyền thống dân tộc. Như chúng ta đã biết, tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam, vậy thì nó cũng gắn liền với làng quê, nghĩa là văn hóa làng quê tôn vinh cuộc sống cộng đồng làng xã và tính độc lập của con người ở làng xã. Hình ảnh làng quê Bắc Bộ Việt Nam trong trang thơ Nguyễn Bính Hình ảnh làng quê Bắc Bộ Việt trong trang thơ Nguyễn Bính là một làng quê yên bình, thơ mộng và đẹp biết bao. Làng quê ấy là cái nôi của nền văn minh châu thổ sông Hồng.
Được sinh ra và lớn lên nơi đây nên Nguyễn Bính đã sớm đắm mình trong những giá trị truyền thống văn hóa dân dã, thôn quê. Nhà thơ yêu quê hương một cách sâu sắc, hầu như tất cả các bài thơ của Nguyễn Bính đều viết về đề tài cảnh sắc làng quê. Chính điều đó đã làm nên phong cách thơ chân quê, hay còn gọi là quê mùa của Nguyễn Bính. Ngôn ngữ thơ của ông cũng mộc mạc, chân chất và tự nhiên như người nhà quê vậy nhưng lại dễ đi vào lòng người, đắm say bao thế hệ đọc và yêu thơ ông: “Quê tôi có gió bốn mùa Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi!” (Quê tôi) Nhà thơ miêu tả bức tranh làng quê mình thật thanh bình, thơ mộng và tràn đầy những kỉ niệm tươi rói.
Quê hương là tất cả trong cuộc sống của Nguyễn Bính, nhà thơ muốn giữ vẹn nguyên những giá trị chân quê, không muốn thay đổi nó mặc dù phải hòa nhập với cuộc sống tha hương. Nhà thơ nhớ thương quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình đến từng gốc cây, ngọn cỏ, từng ngọn gió, làn sương, từng tiếng chuông chùa sớm hôm văng vẳng với không khí bình yên, đẹp đẽ… luôn tồn tại trong tiềm thức của nhà thơ với biết bao yêu thương, trìu mến, chỉ vậy thôi nhưng là tất cả đối với một người con tha hương. Nguyễn Bính đã có công phát hiện vô vàn những vẻ đẹp tinh tế của thôn quê mà mắt thường không nhận ra được. Cảnh quê ở đây rất đẹp, nó được xây dựng từ những kỷ niệm dễ gợi cảm nhất trong tâm linh con người về một miền quê thanh bình, hạnh phúc, đẹp một cách chân thực kiểu cổ điển chỉ có trong tưởng tượng.
Cuộc sống thực lam lũ, khổ đau không cho người ta sống như mong ước thì thơ là niềm khao khát, là ước nguyện của con người, cũng vì thế cảnh quê trong tâm tưởng tác giả đồng thời là giấc mộng ngàn đời. Phải chăng đối với nhiều người, ý niệm về quê hương, về nhà quê ngày xưa phải là một ý niệm đẹp, thú vị, đáng nhớ, một nông thôn trong cảnh điền 9 viên lý tưởng đáng mơ ước? Người ta tiếp nhận khung cảnh trong thơ không phải vì nó giống thực mà vì nó giống như mơ ước, mơ ước của nhiều người qua suốt nhiều đời. Đặc biệt, trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã gợi được cái thần thái của văn hóa làng quê. Đọc thơ Nguyễn Bính, người ta như sống lại những ngày hội xuân, những ngày hội làng, những đêm hát chèo, một buổi lễ chùa, những nét tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán, lớp học thầy đồ, những trò vui dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng… Ngày tết là ngày hội vui vẻ, tưng bừng nhất của làng quê vốn yên ả, thanh bình; là ngày trai thanh gái lịch có dịp gặp gỡ, giao duyên; là ngày lão ông thong thả ngoạn cảnh, đề thơ; là ngày lão bà hối hả sắm sửa lễ vật lên chùa cầu chúc cho cả gia đình một năm mới bình an, mạnh khoẻ, hạnh phúc… Và không thể thiếu những hạt mưa bụi giăng giăng giữa trời, màu sắc xanh mướt của cây cối đâm hoa kết trái, của không khí đất trời vào xuân: “Tháng giêng vừa Tết đầu xuân Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam Mưa xuân rắc bụi quanh làng Bà già sắm sửa hành trang đi chùa Ông già vào núi đề thơ Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè” (Tỳ bà truyện) Mùa xuân là mùa của tình yêu đôi lứa, mùa của những ước hẹn, thề bồi, sự rung động của những tình cảm trắng trong của đôi lứa đang yêu và bắt đầu yêu.
Và nhất là không thể thiếu sự nhớ nhung, sự mơ mộng của một cô gái đang vào tuổi yêu: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay.” (Mưa xuân) Nếu ở Kinh Bắc xưa, mùa xuân là hội quan họ thì ở các làng quê Bắc Bộ khác, mùa xuân là ngày hội của những đêm hát chèo, cũng là mùa của các trò vui dân gian 10 thật giản dị mà thanh thản, sảng khoái ở chốn đồng quê như: đánh đu, đánh cờ người, thả thuyền giấy, leo cột mỡ… “Hiu hiu gió quạt trăng đèn, Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi. Ăn gỏi cá, đánh cờ người, Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân. Ai xa quê mà chẳng nhớ thương quê cũ; nhất là khi cuộc sống hiện tại xung quanh quá u ám, bế tắc, ngột ngạt, những lời quê thấm đẫm hương đồng gió nội lại càng khiến người ta xúc động đến nao lòng. Giữa những kẻ tha hương, Nguyễn Bính đem lời quê ra kể, người ta lắng nghe không phải vì nó giống như thật mà vì đó là những kỷ niệm thiêng liêng về quê hương còn giữ lại trong tâm linh con người - quê hương là vẻ đẹp bất biến trong hoài niệm của người xa quê.
Có lẽ vì thế mà thơ tha hương của Nguyễn Bính mang tính tượng trưng ước lệ rất cao: “Mưa nhè nhẹ, nắng thanh thanh Nên thơ, ôi cả xứ mình nên thơ! Hội xuân gió loạn đuôi cờ Làng xa vào đám nhặt thưa trống chèo” (Xuân về nhớ cố hương) Ngày tết, lễ hội với không khí tưng bừng, náo nhiệt với rất nhiều trò chơi dân gian, rất nhiều màu sắc đi vào thơ ông một cách ngọt ngào, tha thiết. Không những thế, khung cảnh làng quê còn hiện lên với nét đặc biệt của tín ngưỡng tôn giáo qua những câu thơ sau: “Gió chiều cầu nguyện đâu đây Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu Sư già quét lá sau chùa Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng) Hàng ngàn năm nay, hình ảnh những mái chùa cổ kính đã gắn với xóm thôn Việt Nam, đấy là nơi nguyện cầu, nơi nương náu của những gì sâu thẳm trong cõi tâm 11 linh người Việt. Chỉ bằng vài nét vẽ chấm phá, Nguyễn Bính đã tả đúng cái tĩnh lặng, thanh sạch - nét “thần” của một ngôi chùa ở làng quê Việt truyền thống. Một nét đẹp văn hóa ở làng quê Việt Nam xa xưa là ước mơ về sự vinh hiển, là giấc mơ quan trạng.
Giấc mơ ấy trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Nguyễn Bính: “Thế rồi vua mở khoa thi Thế rồi quan trạng vinh quy qua làng” (Quan trạng) “Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy Hai bên có lính hầu đi dẹp đường” (Thời trước) “Rõ ràng quan trạng đương trai Vua cho chạy ngựa ba ngày xem hoa” (Con nhà nho cũ). Với người nông dân chân lấm tay bùn, ước mơ đổi đời bằng giấc mơ quan trạng là ước mơ suốt đời của họ. Khi đã giành được thứ bậc cao trong thi cử, họ sẽ được nhà vua “ân tứ’ ban cho cờ biển vinh quy, rồi được trọng dụng làm quan, hưởng cuộc đời đầy vinh hoa phú quý, bổng lộc cao sang, cả họ được nhờ. Có người đỗ quan trạng cũng là niềm vinh dự lớn nhất, là điều vẻ vang, đáng tự hào nhất của một làng quê.
Phải chăng trong cuộc đời nhiều lam lũ, nhọc nhằn sau lũy tre làng, người ta muốn thay đổi kiếp sống thì chỉ có mỗi cách thực tế nhất và cũng cao sang nhất là đỗ đạt vinh quy như thế? Nguyễn Bính không chỉ tài hoa khi dựng cảnh những ngày hội quê mà ông còn rất am hiểu và khéo léo khi đặc tả những nét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, qua những nét dáng bề ngoài của người quê.