Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám năm 1945" do sinh viên Nguyễn Thị Tố Quyên thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Trương Thị Linh tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Thủ Dầu Một (tháng 5 năm 2015). Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, tiếp cận tác gia văn học dưới góc độ thi pháp học và văn hóa học.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí đặc biệt của Nguyễn Bính trong phong trào Thơ Mới (1932–1945). Trước năm 1945, ông đã công bố 7 tập thơ, 1 truyện thơ, 1 kịch thơ cùng nhiều thi phẩm lẻ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với toàn bộ phong trào Thơ Mới, sáng tác của Nguyễn Bính từng bị phê phán và đặt lại vấn đề dưới góc nhìn xã hội học chính trị, khiến đóng góp của ông chưa được đánh giá thỏa đáng. Từ công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học nghệ thuật được cởi trói tư duy, phong trào Thơ Mới nói chung và thơ Nguyễn Bính nói riêng mới được thẩm định lại một cách khoa học. Trong bối cảnh xã hội đương đại hướng về việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, việc nghiên cứu giá trị tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Bính dưới góc nhìn văn hóa trở thành một yêu cầu khoa học cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua hai nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu những nét cơ bản về làng quê Việt Nam trong các sáng tác của Nguyễn Bính dưới góc nhìn văn hóa; từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện về quê hương, đất nước, con người Việt Nam và khẳng định vị trí của thi sĩ trong phong trào Thơ Mới cũng như trong tiến trình văn học dân tộc.
  2. Khảo sát đặc trưng của văn hóa làng quê và hệ thống phương thức nghệ thuật biểu hiện những nét văn hóa đó trong thơ Nguyễn Bính; qua đó làm rõ phong cách sáng tạo và đóng góp của nhà thơ đối với văn học hiện đại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hình tượng văn hóa làng quê và các phương thức biểu hiện nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính. Phạm vi khảo sát được giới hạn ở các thi phẩm ra đời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Không gian văn hóa trọng tâm được khảo cứu là làng quê truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ – cái nôi của nền văn minh lúa nước châu thổ sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên mối quan hệ hữu cơ giữa văn học và văn hóa:

  • Khái niệm văn hóa: Tiếp cận định nghĩa văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
  • Mối quan hệ văn học - văn hóa: Tiếp thu luận điểm xem văn học là sự tự ý thức văn hóa, vừa chịu sự chi phối của môi trường văn hóa thời đại, vừa là phương tiện lưu giữ, bảo tồn các mô thức và tâm lý văn hóa cộng đồng.
  • Đặc trưng nông thôn Việt Nam: Vận dụng hai hằng số văn hóa cơ bản của làng xã truyền thống là tính cộng đồng và tính tự trị.
  • Khung lý thuyết thi pháp học: Khảo sát tác phẩm thông qua các phạm trù thi pháp học gồm quan niệm nghệ thuật về con người, giọng điệu nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật.

Khóa luận sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu chính và 2 thủ pháp hỗ trợ:

  1. Phương pháp lịch sử: Đặt tác giả, tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam giai đoạn 1930–1945 và tiến trình vận động tiếp nhận phê bình từ năm 1941 đến nay.
  2. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích thi phẩm ở các bình diện từ ngữ, hình ảnh, cấu tứ, sau đó tổng hợp thành các đặc trưng văn hóa và quy luật nghệ thuật.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu thơ Nguyễn Bính với sáng tác của các tác giả Thơ Mới cùng thời (Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Xuân Diệu, Huy Cận) và ca dao truyền thống.
  4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Khám phá cấu trúc hình tượng, thời không nghệ thuật và cái tôi trữ tình của tác giả.
  • Thủ pháp bổ trợ: Thống kê, liệt kê tần số xuất hiện của các thi liệu văn hóa (như hình ảnh mái tranh, các loại vườn, trang phục dân gian).

Nguồn ngữ liệu khảo sát bao gồm các tập thơ, kịch thơ, truyện thơ xuất bản trước năm 1945 của Nguyễn Bính: Tâm hồn tôi (1937, 1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mười hai bến nước (1942), Mây tần (1942), Bóng giai nhân (kịch thơ, 1942), Cây đàn tỳ bà (hay Truyện tỳ bà, 1944), cùng các thi phẩm tiêu biểu như Chân quê, Mưa xuân, Tương tư, Tết của mẹ tôi, Xuân tha hương, Cô lái đò, Thời trước, Quê tôi, Đường làng.

Tiêu chí Nội dung xác lập trong khóa luận
Hệ khái niệm công cụ Văn hóa, văn hóa làng quê, tính cộng đồng, tính tự trị, thi pháp học (quan niệm nghệ thuật, giọng điệu, không - thời gian).
Hệ thống phương pháp Phương pháp lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, tiếp cận thi pháp học; thủ pháp thống kê, liệt kê.
Phạm vi ngữ liệu Tác phẩm thơ, kịch thơ, truyện thơ giai đoạn 1936–1945 của Nguyễn Bính; tiêu biểu là các sáng tác thuộc thể thơ lục bát và bảy chữ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung

Chương 1 xây dựng khung nền tảng về lý luận văn hóa và tiểu sử tác giả. Về phương diện lý luận, tác giả khẳng định giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học là việc đặt văn bản vào bối cảnh văn hóa rộng lớn để tìm hiểu các giá trị và sắc thái dân tộc học được chuyển hóa trong hình tượng nghệ thuật. Làng quê Bắc Bộ trong thơ Nguyễn Bính được tái hiện với tính chất điền viên lý tưởng, bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước, lưu giữ các biểu tượng như mái đình, cây đa, bến đò, giàn trầu, hàng cau và nếp sinh hoạt hội làng, đi chùa, thi cử đỗ đạt.

Về tiểu sử và văn nghiệp, tác giả tổng thuật các mốc cơ bản của cuộc đời Nguyễn Bính (tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; mất ngày 20/01/1966, tức 30 Tết Ất Tỵ tại Lý Nhân). Ông mồ côi sớm, học chữ Nho với cha và cậu ruột, làm thơ từ năm 13 tuổi, ra Hà Nội năm 1932. Ông nhận Giải khuyến khích Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập Tâm hồn tôi, Giải nhất văn học Nam Xuyên năm 1943 với truyện thơ Cây đàn tỳ bà. Năm 1947 tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, năm 1954 tập kết ra Bắc, làm chủ bút báo Trăm hoa năm 1956, sau đó công tác tại Ty Văn hóa Nam Định. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Chương này cũng tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ năm 1941 đến năm 1996, phản ánh sự biến đổi trong nhận thức phê bình:

Giai đoạn / Mốc thời gian Tác giả / Tài liệu tiêu biểu Quan điểm đánh giá chính ghi nhận trong khóa luận
1941 Hoài Thanh, Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam) Khẳng định Nguyễn Bính giữ được bản chất nhà quê, thơ ông đánh thức người nhà quê ẩn náu trong tâm hồn người đọc.
1961 Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) Đánh giá nội dung thơ hơi nghèo nàn, ngả sang vè, than thở tình duyên lỡ làng; nhưng thừa nhận lục bát và thơ bảy chữ có giá trị trữ tình hàm súc.
1964 – 1968 Nhóm Sơ thảo Lịch sử văn học (1964), Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1968) Phê phán nội dung nghèo nàn, cảm xúc loãng, mang tính tiểu tư sản, thi vị hóa nông thôn, dùng từ ngữ sáo mòn, thiếu tính chiến đấu.
1971 – 1982 Tạp chí Văn (1971), Huỳnh Lý, Đăng Mạnh (1973/1978), Phan Cự Đệ (1982) Thừa nhận chất dân tộc, ca dao nhưng phê phán thơ đơn điệu, thoát ly hiện thực khổ cực của nông dân, thiếu ca dao tố cáo hiện thực.
1986 – 1996 Hội VHNT Hà Nam Ninh, Tô Hoài (1986), Tôn Phương Lan (1990), Hà Minh Đức (1995), Trần Hữu Tá, Trần Mạnh Hảo (1996) Khẳng định lại vị thế: nhà thơ chân quê tầm vóc, gìn giữ hồn quê thuần khiết; hành trình thơ đi từ dân tộc đến hiện đại.

Chương 2: Đặc trưng của văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống thi liệu và biểu tượng phản ánh bản sắc văn hóa làng quê Bắc Bộ qua ba nội dung lớn:

  1. Cảnh sắc thiên nhiên thi vị thấm đượm tình nghĩa: Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính gắn với các không gian hoài niệm như thôn Vân, dòng sông, con đê, bờ ao sen, giậu mồng tơi, cánh bướm, mưa xuân, hoa xoan. Cảnh vật không dừng ở mức tả thực mà trở thành chất xúc tác cho tâm trạng giao duyên, nỗi nhớ mong của lứa đôi và tâm thức hướng về cội nguồn của người tha hương.
  2. Những chi tiết, tình tiết mang đậm nét văn hóa làng quê:
    • Ngày Tết: Phong tục đón Tết cổ truyền được miêu tả qua các nghi thức mổ lợn, đồ xôi, tiếng pháo chuột, thắp hương lễ tổ tiên và lời răn dạy con cái giữ gìn hòa khí trong bài Tết của mẹ tôi; đối lập với tâm trạng sầu tủi, cách trở không gian trong bài Xuân tha hương.
    • Hội xuân: Gắn với không khí hội chèo làng Đặng, tiếng trống hội thôn Đoài, các trò chơi dân gian như đánh cờ người, đánh đu, thả thuyền giấy, lên chùa dâng hương (Mưa xuân, Tỳ bà truyện). Khác với lối tả tỉ mỉ ngoại cảnh của Anh Thơ hay Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính để cảnh hội xuân hòa tan vào nội tâm nhân vật trữ tình.
    • Mái tranh, mảnh vườn, lũy tre: Khóa luận khảo sát biểu tượng "mái gianh" (xuất hiện 4 lần trong các văn cảnh của Không đề, Nhà cô thôn nữ), biểu trưng cho cái nghèo thanh bạch, mái ấm tình nghĩa đối lập với "tòa ngói cao" thị thành. Hệ thống vườn tược phong phú (vườn chanh, vườn cam, vườn dâu, vườn cải, vườn chè, vườn đào) tạo nên không gian thanh khiết; trong đó "vườn chanh" ở bài Chân quê mang ý nghĩa triết lý về việc giữ gìn bản sắc cội nguồn. Lũy tre xanh tượng trưng cho tính tự trị, bao bọc làng quê, làm nền cho tà áo, chiếc thắt lưng xanh của người phụ nữ nông thôn (Mùa xuân xanh, Đường làng).
  3. Hình ảnh con người chân chất, hồn hậu:
    • Người mẹ tần tảo: Hiện thân của sự hy sinh nhẫn nại, gánh vác việc đồng áng, cày cấy, lo toan nợ nần để con yên tâm làm dâu, nén giọt nước mắt đưa thoi trong đêm (Lòng mẹ, Tết của mẹ tôi, Thư gửi thầy mẹ).
    • Người chị tinh thần (chị Trúc): Biểu tượng của gia đình và quê hương, nơi chia sẻ mọi biến cố đời sống, giàu đức hy sinh vì mẹ già em dại qua tập Lỡ bước sang ngang, cùng những bài thơ viết bằng thể thư từ, vấn an ấm áp (Gió lạnh, Xuân tha hương, Xây lại cuộc đời).
    • Người con gái làng quê: Mang vẻ đẹp dung dị, e ấp, kín đáo (Đôi khuyên bạc). Tác giả đối chiếu sâu sắc sự biến đổi trang phục trong bài Chân quê: các vật phẩm truyền thống (yếm lụa sồi, dây lưng đũi nhuộm hồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen) bị thay thế bởi lối ăn mặc thị thành Âu hóa (áo cài khuy bấm, khăn nhung, quần lĩnh), làm dấy lên nỗi âu lo đánh mất thuần phong mỹ tục.

Chương 3: Quan niệm nghệ thuật biểu hiện những nét văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính

Chương 3 vận dụng lý thuyết thi pháp học để làm rõ các phương thức biểu hiện nghệ thuật:

  • Quan niệm nghệ thuật về con người: Con người trong thơ Nguyễn Bính là con người nội cảm, giàu lòng trắc ẩn, được soi chiếu qua lăng kính thi vị hóa. Nhà thơ gạn lọc những lam lũ, cơ cực vật chất thường nhật của nông dân để làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần: sự hiền hậu của người mẹ, đức hy sinh của người chị, nét e ấp của thiếu nữ thôn dã. Con người luôn hòa nhập gắn bó với các thời khắc sinh hoạt văn hóa cộng đồng (mùa xuân, hội làng).
  • Giọng điệu nghệ thuật: Khóa luận xác lập hai sắc thái giọng điệu chủ đạo:
    1. Giọng tươi vui, trong trẻo, hóm hỉnh: Xuất hiện trong các sáng tác viết về cảnh sắc mùa xuân, lễ hội dân gian, giấc mơ quan trạng và tình cảm lứa đôi chớm nở (Quan trạng, Thơ xuân, Đôi khuyên bạc, Quê tôi).
    2. Giọng ngậm ngùi, tha thiết, ai oán: Xuất hiện trong những thi phẩm tâm sự, giải bày nỗi trắc trở duyên kiếp, sự chia lìa, bi kịch dở dang hay cảnh ngộ tha hương lưu lạc (Cô lái đò, Thư cho thầy mẹ, Lỡ bước sang ngang).
  • Không gian và thời gian nghệ thuật:
    • Không gian làng quê: Không gian thực mở ra với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình, luống dâu, mảnh vườn tĩnh lặng, thanh bình, chan hòa sắc màu tươi sáng (xanh lá mạ, trắng hoa cam, đỏ yếm).
    • Không gian tâm tưởng / Không gian chia ly: Thể hiện qua hình tượng con thuyền, dòng sông giông bão, bến đò cách trở, dậu mùng tơi ngăn cách, gợi cảm thức bất an, xa cách và mất mát tình duyên (Lỡ bước sang ngang, Hành phương Nam, Người hàng xóm).
    • Thời gian nghệ thuật: Vận động theo chu kỳ tuần hoàn tự nhiên của thời vụ, tiết trời (mùa xuân - tết đến, hạ sang, thu tàn) kết hợp với thời gian tâm lý hoài niệm, tiếc nuối những giá trị cổ xưa đang dần phai nhạt trước sự xâm lấn của văn minh đô thị.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã khảo sát toàn diện hệ thống hình tượng văn hóa làng quê trong các sáng tác trước năm 1945 của Nguyễn Bính. Tác giả cung cấp các số liệu và cứ liệu văn học cụ thể:

  • Thống kê quy mô sáng tác trước năm 1945 gồm 7 tập thơ (Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ, Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây tần), 1 kịch thơ (Bóng giai nhân), 1 truyện thơ (Cây đàn tỳ bà / Truyện tỳ bà).
  • Chỉ ra các chi tiết phong tục đặc trưng: tập quán mổ lợn, đồ xôi, kiêng kỵ đầu năm; các trò chơi hội làng (đánh đu, cờ người, hát chèo); các trang phục truyền thống (yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen).
  • Phân tích tần số xuất hiện của thi liệu biểu tượng: từ "mái gianh" xuất hiện 4 lần trong toàn bộ sáng tác trước 1945; hệ thống các không gian vườn đặc trưng gồm vườn chanh, vườn cam, vườn dâu, vườn cải, vườn chè, vườn đào.

Về đóng góp học thuật, khóa luận góp phần dịch chuyển góc độ tiếp cận Nguyễn Bính: không dừng lại ở việc xem thơ ông thuần túy là thơ lãng mạn hay thơ trữ tình đồng quê, mà định vị thơ ông như một cấu trúc biểu đạt văn hóa dân tộc. Khóa luận chỉ ra rằng văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính là một hệ giá trị thẩm mỹ bền vững, nơi lưu giữ tâm thức dân tộc trước làn sóng đô thị hóa và Tây hóa của thời đại Thơ Mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định giới hạn nghiên cứu:

  • Chỉ tập trung khảo sát mảng tác phẩm sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; chưa bao quát toàn bộ sự nghiệp 40 năm sáng tác với gần 2000 bài thơ của Nguyễn Bính (chưa phân tích sâu mảng thơ kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ giai đoạn 1947–1954 và thơ xây dựng miền Bắc sau năm 1954).
  • Nguồn văn bản sưu tập tác phẩm trước 1945 vẫn còn một số bài thơ lẻ chưa tập hợp đầy đủ.

Hướng mở nghiên cứu được gợi mở từ văn bản:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ chặng đường sau năm 1945 để so sánh, đối chiếu sự biến chuyển của cảm thức văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
  • Đi sâu nghiên cứu thể thơ lục bát và các phương thức chuyển hóa ca dao dân gian trong hình thức thơ hiện đại của tác giả.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và Văn hóa học khi thực hiện các chuyên đề về phong trào Thơ Mới, tác gia văn học hiện đại hoặc nghiên cứu thi pháp tác giả.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là:

  • Bản tổng thuật lịch sử tiếp nhận phê bình thơ Nguyễn Bính từ năm 1941 đến năm 1996 ở Chương 1, cung cấp cái nhìn sáng tỏ về tiến trình thay đổi nhận thức học thuật qua các thời kỳ lịch sử.
  • Hệ thống phân tích các phong tục cổ truyền (Tết, hội chèo, trang phục) gắn liền với hệ thống thi liệu ở Chương 2.
  • Sự kết hợp giữa thi pháp học (con người, giọng điệu, không - thời gian) với mã văn hóa làng xã ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận giải thích nguyên nhân thơ Nguyễn Bính từng bị phê phán sau năm 1945 như thế nào?
Khóa luận chỉ ra rằng sau năm 1945 và đặc biệt sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, việc thẩm định Thơ Mới chịu sự chi phối nặng nề của hoàn cảnh chính trị - xã hội. Thơ Nguyễn Bính bị các nhà nghiên cứu giai đoạn 1964–1982 (nhóm Sơ thảo Lịch sử văn học, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Huỳnh Lý, Phan Cự Đệ) phê phán là mang tư tưởng tiểu tư sản, nội dung nghèo nàn, thi vị hóa nông thôn, né tránh hiện thực cực khổ của nông dân và thiếu tinh thần chiến đấu. Phải từ sau Đổi mới năm 1986, phong trào Thơ Mới mới được trả về đúng nấc thang giá trị.

2. Hình ảnh "mái gianh" và "vườn chanh" mang ý nghĩa biểu tượng gì trong khóa luận?
Theo khóa luận, "mái gianh" (xuất hiện 4 lần trong thơ Nguyễn Bính) là biểu tượng cho cuộc sống nghèo khổ nhưng thanh sạch, bình yên và giàu tình nghĩa làng quê, đối lập với sự xa hoa của chốn thị thành. Hình ảnh "vườn chanh" và câu thơ "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài Chân quê là biểu tượng cho vẻ đẹp thuần phác, tự nhiên, tượng trưng cho cội nguồn truyền thống dân tộc cần được nâng niu gìn giữ.

3. Tác giả phân chia giọng điệu nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính thành những sắc thái nào?
Khóa luận chia giọng điệu nghệ thuật thành hai sắc thái chính: giọng tươi vui, trong trẻo, hóm hỉnh (xuất hiện trong các bài thơ về mùa xuân, ngày hội, tình yêu đôi lứa như Quan trạng, Thơ xuân, Đôi khuyên bạc, Quê tôi); và giọng ngậm ngùi, tha thiết, sầu tủi (xuất hiện trong các lời tâm sự, giãi bày cảnh ngộ dở dang, chia cách như Cô lái đò, Thư cho thầy mẹ, Lỡ bước sang ngang).

4. Sự đối lập trang phục trong bài thơ "Chân quê" được phân tích dưới góc nhìn văn hóa ra sao?
Khóa luận đối chiếu trang phục truyền thống của người phụ nữ nông thôn (yếm lụa sồi, dây lưng đũi nhuộm hồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen) với trang phục thị thành Tây hóa (áo cài khuy bấm, khăn nhung, quần lĩnh). Sự thay đổi này được tác giả xem là biểu hiện của sự tha hóa, làm suy chuyển nếp sống thuần phong mỹ tục, từ đó lý giải tiếng kêu tha thiết giữ gìn bản sắc thôn quê của nhân vật trữ tình.

5. Vì sao khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Tác giả lý giải rằng dù sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Bính kéo dài 40 năm với khối lượng thi phẩm lớn, nhưng mảng sáng tác thể hiện hình ảnh làng quê Việt Nam độc đáo, tập trung và đạt đỉnh cao nghệ thuật sâu sắc nhất chính là các tác phẩm ra đời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Tố Quyên đã phân tích hệ thống hình tượng văn hóa làng quê Bắc Bộ trong thơ Nguyễn Bính giai đoạn 1936–1945 dưới giác độ văn hóa học và thi pháp học. Công trình làm sáng tỏ các giá trị phong tục, nếp sống cộng đồng và chiều sâu tâm linh làng xã truyền thống qua hệ thống thi liệu về lễ hội, cảnh sắc và con người quê kiểng. Đồng thời, khóa luận khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Bính qua việc tổ chức không - thời gian nghệ thuật, xây dựng quan niệm con người nội cảm và xác lập giọng điệu trữ tình mang đậm phong vị ca dao dân tộc.