Luận văn thạc sĩ về lý luận sử học ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh vấn đề lý luận sử học ở miền bắc việt nam thời kỳ 1954 1975, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT SỬ HỌC MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ, CHỨC NĂNG CỦA SỬ HỌC

2.1. Lý luận về đối tượng của sử học

2.2. Lý luận về nhiệm vụ, chức năng của sử học

3. CHƯƠNG 3: LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ HỌC

3.1. Về tính đảng và tính khoa học trong sử học

3.2. Về phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong sử học

3.3. Về chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa khách quan trong sử học

3.4. Về tài liệu lịch sử

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về lý luận sử học miền Bắc Việt Nam 1954 1975

Lý luận sử học miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 đã có những bước phát triển đáng kể. Sau khi đất nước được giải phóng, miền Bắc đã chuyển mình sang một giai đoạn mới, với nhiều thách thức và cơ hội trong việc xây dựng lý luận sử học. Các nhà sử học đã nỗ lực nghiên cứu và phát triển lý luận dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng và giáo dục nhân dân. Hệ thống lý luận này không chỉ phản ánh tư tưởng của Đảng mà còn thể hiện sự phát triển của khoa học lịch sử trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa.

1.1. Lịch sử hình thành lý luận sử học miền Bắc

Lý luận sử học miền Bắc bắt đầu hình thành từ những năm đầu sau 1954, với sự ra đời của Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học. Ban này đã tổ chức nhiều hội thảo và xuất bản nhiều tài liệu quan trọng, góp phần định hình tư tưởng sử học trong giai đoạn này.

1.2. Những thành tựu nổi bật trong lý luận sử học

Trong giai đoạn này, lý luận sử học miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như việc nghiên cứu nguồn gốc dân tộc Việt Nam, thời đại Hùng Vương và các hình thái kinh tế xã hội. Những nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ lịch sử dân tộc và khẳng định giá trị văn hóa của Việt Nam.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu lý luận sử học

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng lý luận sử học miền Bắc cũng đối mặt với không ít thách thức. Các nhà sử học phải đối diện với áp lực từ chính trị và xã hội, điều này ảnh hưởng đến tính khách quan và khoa học trong nghiên cứu. Việc áp dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào nghiên cứu lịch sử cũng gặp phải những khó khăn nhất định, khi mà nhiều quan điểm truyền thống vẫn còn tồn tại.

2.1. Áp lực từ chính trị và xã hội

Sự can thiệp của chính trị vào nghiên cứu lịch sử đã tạo ra những áp lực lớn đối với các nhà sử học. Họ phải cân nhắc giữa việc giữ vững tính khách quan và việc phục vụ cho các mục tiêu chính trị của Đảng.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Việc áp dụng lý thuyết Mác-Lênin vào nghiên cứu lịch sử không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhiều nhà sử học đã gặp khó khăn trong việc hòa hợp giữa lý thuyết và thực tiễn lịch sử, dẫn đến những tranh cãi và bất đồng trong giới nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu lý luận sử học hiệu quả

Để phát triển lý luận sử học, các nhà nghiên cứu miền Bắc đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ giúp làm rõ các vấn đề lý luận mà còn tạo ra những luận điểm mới trong nghiên cứu lịch sử. Việc kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic đã mang lại những kết quả tích cực trong việc phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử.

3.1. Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu

Phương pháp lịch sử được sử dụng để phân tích các sự kiện và hiện tượng lịch sử trong bối cảnh cụ thể. Điều này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hệ quả của các sự kiện lịch sử.

3.2. Phương pháp lôgic trong lý luận sử học

Phương pháp lôgic giúp các nhà sử học xây dựng các luận điểm chặt chẽ và có hệ thống. Việc áp dụng phương pháp này đã giúp làm rõ các vấn đề lý luận phức tạp trong nghiên cứu lịch sử.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lý luận sử học miền Bắc

Lý luận sử học miền Bắc không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc giáo dục và tuyên truyền. Các nhà sử học đã sử dụng lý luận này để xây dựng các chương trình giảng dạy, tài liệu học tập và các hoạt động tuyên truyền về lịch sử. Điều này đã góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về lịch sử và văn hóa dân tộc.

4.1. Giáo dục và tuyên truyền lịch sử

Lý luận sử học đã được áp dụng trong giáo dục, giúp học sinh và sinh viên hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc. Các chương trình giảng dạy đã được xây dựng dựa trên các luận điểm lý luận, tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc học tập.

4.2. Tài liệu nghiên cứu và tham khảo

Nhiều tài liệu nghiên cứu và tham khảo đã được xuất bản dựa trên lý luận sử học miền Bắc. Những tài liệu này không chỉ phục vụ cho giới nghiên cứu mà còn cho công chúng, giúp nâng cao nhận thức về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

V. Đánh giá và kết luận về lý luận sử học miền Bắc

Lý luận sử học miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của khoa học lịch sử. Mặc dù còn nhiều hạn chế và thách thức, nhưng những thành tựu đạt được đã tạo nền tảng cho các nghiên cứu sau này. Việc đánh giá và kế thừa những giá trị này là cần thiết để phát triển lý luận sử học trong tương lai.

5.1. Đánh giá những thành tựu đạt được

Các thành tựu trong lý luận sử học miền Bắc đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử quan trọng. Những nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc giáo dục và tuyên truyền.

5.2. Hướng phát triển lý luận sử học trong tương lai

Để phát triển lý luận sử học trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá các vấn đề còn tồn tại. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và giáo dục lịch sử.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề lý luận sử học ở miền bắc việt nam thời kỳ 1954 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề “có một số người nghiên cứu sử học cho rằng lịch sử là cái đã qua cho nên chỉ có cái gì thuộc về quá khứ thì mới có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhà sử học được. Lại cũng có một số người khác thì đồng ý là sử học có thể lấy các vấn đề hiện đại làm đối tượng nghiên cứu nhưng lại thấy cái khó khăn là ở phía phương pháp. Sử học có thể lấy các vấn đề có tính chất thời sự để nghiên cứu được không. Nhà sử học nghiên cứu và viết các vấn đề có tính chất thời sự như thế nào? Đó là những câu hỏi được đặt ra và cần được thảo luận, giải đáp” [57, tr.

Để chứng minh cho vấn đề thời sự quan trọng cũng là đối tượng nghiên cứu của sử học, tác giả đã luận giải như sau: Thứ nhất, khoa học lịch sử là khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng. Sự vật, hiện tượng nào cũng có quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc rồi bước kết thúc ấy lại làm nảy sinh một số quá trình mới. Nhà sử học thông qua tài liệu nhiều mặt về quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc của sự vật và hiện tượng ấy mà nghiên cứu lịch sử của nó. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như thế bất cứ một sự kiện gì đã phát sinh ra, nếu nó đã trải qua một giai đoạn phát triển nhất định dù là đã kết thúc hay chưa kết thúc thì đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhà sử học.

Do đó đối tượng nghiên cứu những vấn đề thời sự của người nghiên cứu lịch sử rất rộng rãi. Thứ hai, đối với những sự kiện nào đó mới vừa nảy sinh và ở bước đầu phát triển ví như phong trào hợp tác hóa mới bắt đầu, phong trào cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh mới bắt đầu, chưa có một quá trình, chưa kết thúc, thì như thế những phong trào đó có thể trở thành đối tượng cho người nghiên cứu lịch sử được không. Câu trả lời là có thể vì rằng đó tuy là những sự kiện mới xuất hiện và chưa trải qua một giai đoạn phát triển, song nó cũng không phải là một sự kiện đột xuất, ngẫu nhiên, cô lập. Nó xuất hiện ra là do những điều kiện lịch sử nhất định, những tiền đề nhất định, là do sự tiến triển của tình hình kinh tế, chính trị nước ta trong một khoảng thời gian nhất định.

Như thế là nó có một “quá khứ”. Thứ ba, không phải bất cứ vấn đề thời sự nào nhà sử học cũng có thể nghiên cứu theo ý nghĩa lịch sử của nó. Những sự kiện cá biệt nào đó đều là sự kiện thời sự, nó cũng thuộc lịch sử. Nhưng lịch sử không phải là những sự kiện lẻ tẻ mà là tổng hợp những sự kiện lẻ tẻ đó, là tổng số của nó.

Cái tổng số ấy biểu hiện bản chất của lịch sử. Phương pháp lịch sử mô tả cả những chi tiết, những cái cá biệt ngẫu nhiên, những bước đường quanh co phức tạp của hiện thực song không có nghĩa là một sự kiện ngẫu nhiên nào đó đều là đối tượng có thể nghiên cứu được. Trong trường hợp sự kiện ngẫu nhiện, cá biệt có ảnh hưởng lớn tuy không phải là ảnh hưởng quyết định, ảnh hưởng đó có thể tốt, có thể xấu thì sự vật cá biệt ngẫu nhiên ấy lại có thể và cần phải trở thành đối tượng nghiên cứu của sử học. Tại cuộc hội thảo về phương pháp luận sử học năm 1966, nhà sử học Nguyễn Hồng Phong lại đề cập tới vấn đề đối tượng của sử học với nội dung rộng rãi hơn, trong bài viết “Mấy vấn đề phương pháp luận sử học”, Ông khẳng định bộ phận chính yếu nhất đó là lịch sử chính trị.

Ông viết “Thời gian 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua các nhà sử học của ta đã tập trung chú ý làm nổi bật một đặc trưng cơ bản, một mặt chủ yếu của lịch sử dân tộc là cuộc đấu tranh chính trị (chống ngoại xâm và chống bọn phản động trong nước) luôn luôn nổi bật lên hàng đầu và tác động mạnh mẽ đến các mặt hoạt động khác của xã hội. Sự chú ý đến mặt đấu tranh chính trị của lịch sử nước ta là hoàn toàn cần thiết và chính đáng. Những điều ấy phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh trước mắt…”[97, tr. Mặt khác, tác giả nhấn mạnh tới lịch sử kinh tế trong nghiên cứu lịch sử, đó là, trong giai đoạn cách mạng này, nếu truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân trong quá khứ có tác dụng cổ động cho sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ, cứu nước như thế nào thì truyền thống lao động cần cù, dũng cảm và thông minh của nhân dân trong lịch sử cũng có tác dụng tích cực to lớn đối với sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội của nhân dân như thế.

Việc cần chú trọng đến lịch sử kinh tế, lịch sử sản xuất không những là do yêu cầu của thời kỳ kiến thiết chủ nghĩa xã hội mà còn do thực tế khách quan của lịch sử nước ta. Đồng thời, ông cũng chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu lịch sử kinh tế: Về mặt phương pháp luận, việc không chú ý đầy đủ đến việc nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ tạo điều kiện cho chủ nghĩa chủ quan phát triển trong sử học. Hay cũng có thể nói trong một số trường hợp nhất định, tình trạng thiên lệch ấy cũng lại là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan. Nó vi phạm tính hoàn chỉnh của lịch sử, trở ngại cho việc tìm hiểu bộ mặt chân thực của lịch sử, cũng trở ngại cho việc phát hiện ra những quy luật lịch sử chính xác.

Tác giả Nguyễn Hồng Phong cũng trở lại vấn đề thời sự có phải là đối tượng của sử học không và ông tiếp tục khẳng định quan điểm của mình, đối tượng của sử học là các sự kiện của quá khứ, của lịch sử phát triển xã hội. Nhưng vấn đề là thế nào là quá khứ: quá khứ có thể là một sự kiện ngày hôm qua, mà cũng có thể là từ trăm năm hay nghìn năm về trước. Về mặt lý luận, thừa nhận rằng nghiên cứu một sự kiện vừa xảy ra, đang còn là thời sự khó 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hơn là nghiên cứu một sự kiện đã đi hẳn vào quá khứ. Vì rằng cái đã đi hẳn vào quá khứ là cái đã trải qua một quá trình phát triển của nó.

Mọi nhân tố đã rõ ràng ổn định. Còn thời sự là cái đang diễn biến, chưa kết thúc, mọi nhân tố còn đang hoạt động. Nếu nhà sử học chỉ khoanh vùng cho mình những sự kiện đã phủ bụi thời gian, hay đợi đống lửa trở thành tro tàn nguội lạnh mới nghiên cứu là tự mình từ bỏ một lĩnh vực ở đó mình có thể phát huy tác dụng tốt, từ bỏ một lợi khí tư tưởng sắc bén, từ bỏ tham gia chiến đấu trực tiếp và tức thời trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt. Tác giả Đinh Xuân Lâm trong bài viết “Đối tượng của sử học và lịch sử hiện tại” trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 93, năm 1966 cũng đồng tình với ý kiến cho rằng lịch sử hiện tại (thời sự) là bộ phận rất quan trọng trong đối tượng sử học.

Tác giả cho rằng trong nghiên cứu lịch sử hiện tại, các nhà sử học mác xít có đủ khả năng, thừa dũng cảm và có nhiệm vụ nói lên sự thật. Sự thật được nói ra đó sẽ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp chiến đấu và cách mạng của chúng ta, góp phần tích cực vào việc cải tạo xã hội hiện tại cũng như thúc đẩy xã hội phát triển nhằm tới một tương lai tươi sáng. Nghiên cứu tốt lịch sử hiện tại sẽ có tác dụng rất lớn trong việc cổ động quần chúng phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo của họ về mọi mặt. Tác giả đặt ra câu hỏi: “Tại sao từ một nhận thức đúng đắn như vậy đến thực hành trong công tác chuyên môn của chúng ta từ trước đến nay vẫn thiếu một sự thống nhất chặt chẽ.

Tại sao hiện nay những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử vẫn còn có tư tưởng ngại ngần do dự khi đi vào lịch sử hiện tại?” [35, tr. Tác giả đã phân tích, có tình trạng trên một số người cho rằng nghiên cứu lịch sử hiện tại có khó khăn về tài liệu. Nhưng thực tế cho thấy khó khăn không phải ở chỗ thiếu tài liệu. Cuộc sống chiến đấu và sản xuất sôi nổi của nhân dân đã và đang hàng ngày cung cấp cho người hiện tại biết bao sự việc vô cùng phong phú và sinh động đòi hỏi phải đi sâu tìm hiểu.

Người nghiên cứu lịch sử hiện tại có thể vừa dựa vào kinh nghiệm sống trực tiếp của bản 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân vừa dựa trên một tổng thể tư liệu và chứng cứ vô cùng phong phú, trên cơ sở đó khôi phục bầu không khí lịch sử của thời đại là một yếu tố tối cần thiết đối với bất cứ một công trình nghiên cứu lịch sử giá trị nào. Một khó khăn trong nghiên cứu lịch sử hiện tại là đối với những tài liệu tối mật mà người nghiên cứu chưa thể tiếp cận thì cần nhất trí rằng không phải một lúc cần nghiên cứu tất cả và nghiên cứu là phải công bố ngay. Người nghiên cứu vẫn có thể nghiên cứu hiện tại với những tài liệu có được trong tay, tuyệt đối không thể cầu toàn đến lúc có đủ tài liệu rồi mới nghiên cứu. Công tác nghiên cứu lịch sử không phải “nhất thành vạn biến” mà là người sau nối tiếp người trước tiến dần tới một công trình hoàn bị.

Còn việc công bố toàn bộ hay công bố đến mức nào kết quả nghiên cứu thì căn cứ vào lợi ích của cách mạng là nguyên tắc tối cao để quyết định. Cũng tại cuộc hội thảo về phương pháp luận sử học năm 1966, tác giả Nguyễn Công Bình viết bài “Vấn đề đối tượng của sử học”. Bài viết gồm hai phần, phần thứ nhất “Hai quan niệm đối lập về đối tượng sử học”. Trong phần này, tác giả đã phê phán quan niệm tư sản về đối tượng của sử học khi coi lịch sử chỉ là lịch sử của các cá nhân xuất chúng và đó là những sự kiện lịch sử rời rạc, tản mạn và tất nhiên được sắp xếp tùy theo ý chí chủ quan của nhà sử học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ