Phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tỉnh Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc Đảng ủy Khối doanh nghiệp Phú Thọ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
136
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát triển tổ chức đảng doanh nghiệp ngoài nhà nước

Phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước là nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Quá trình này giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng tại cơ sở. Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ luôn xác định đây là địa bàn chiến lược. Sự hiện diện của tổ chức đảng bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và định hướng phát triển bền vững. Tổ chức đảng hoạt động như cầu nối vững chắc giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Sự phối hợp này tạo nên môi trường làm việc ổn định và hài hòa lợi ích. Đảng viên trong doanh nghiệp luôn thể hiện tính tiên phong trong lao động sản xuất. Họ đóng vai trò nòng cốt trong việc nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Bên cạnh đó, việc xây dựng tổ chức đảng giúp củng cố hệ thống chính trị tại địa phương. Các đoàn thể như công đoàn và đoàn thanh niên nhờ đó hoạt động hiệu quả hơn. Mục tiêu cốt lõi là vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, vừa giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong thời kỳ đổi mới.

1.1. Khái niệm và vị trí của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân

Tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước là hạt nhân chính trị trực tiếp lãnh đạo đảng viên. Đơn vị này tuyên truyền, vận động người lao động chấp hành tốt đường lối và chính sách pháp luật. Tổ chức đảng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động lẫn chủ sở hữu doanh nghiệp. Vị trí hạt nhân này giúp duy trì trật tự lao động và xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh. Sự gắn kết chặt chẽ giữa tổ chức đảng với bộ máy quản trị góp phần gia tăng giá trị sản xuất và tính cạnh tranh trên thị trường.

1.2. Vai trò của Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ

Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ giữ vai trò định hướng và chỉ đạo trực tiếp công tác xây dựng Đảng. Cơ quan này hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về mặt pháp lý và cơ chế tổ chức. Việc thành lập chi bộ mới luôn đi liền với công tác bồi dưỡng cán bộ nòng cốt. Đảng ủy khối thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ công tác đảng. Nhờ vậy, chất lượng sinh hoạt chi bộ tại các doanh nghiệp ngày càng thực chất, bám sát nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thực tế.

II. Thực trạng phát triển tổ chức đảng ngoài nhà nước tại Phú Thọ

Công tác phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tại Phú Thọ ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên mới kết nạp tăng đều qua từng năm. Nhiều chủ doanh nghiệp đã nhận thức rõ lợi ích của việc có chi bộ đảng đồng hành. Hoạt động của tổ chức đảng trực tiếp góp phần ổn định tư tưởng cho công nhân và người lao động. Tuy nhiên, tiến độ thành lập tổ chức đảng mới vẫn còn gặp không ít khó khăn. Tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước có chi bộ đảng nhìn chung còn ở mức khiêm tốn so với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Một số chủ doanh nghiệp e ngại việc thành lập tổ chức đảng làm ảnh hưởng đến thời gian sản xuất kinh doanh. Nội dung và hình thức sinh hoạt chi bộ ở một số nơi còn rập khuôn, thiếu tính linh hoạt. Nguồn kết nạp đảng viên là công nhân trực tiếp sản xuất còn hạn chế do biến động lao động cao. Những tồn tại này đòi hỏi Đảng ủy Khối phải có những đánh giá sâu sắc để đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.

2.1. Những kết quả nổi bật và thuận lợi đạt được

Nhiều mô hình chi bộ ghép và chi bộ độc lập tại các khu công nghiệp hoạt động hiệu quả. Đội ngũ đảng viên phát huy tốt vai trò tiên phong trong các phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo. Quan hệ phối hợp giữa cấp ủy chi bộ và ban giám đốc doanh nghiệp từng bước được cải thiện rõ nét. Đảng ủy Khối kịp thời khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. Những kết quả tích cực này đã tạo dựng được niềm tin vững chắc cho các nhà đầu tư tư nhân và doanh nghiệp FDI.

2.2. Khó khăn vướng mắc và nguyên nhân tồn tại

Nhiều đơn vị gặp khó khăn trong việc bố trí thời gian sinh hoạt đảng phù hợp với ca kíp làm việc. Nhận thức của một bộ phận người lao động về Đảng còn mờ nhạt, chưa có động cơ phấn đấu vào Đảng rõ ràng. Công tác bồi dưỡng quần chúng ưu tú tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp rào cản về ngôn ngữ và văn hóa quản trị. Cơ chế phối hợp giữa cấp ủy với chủ doanh nghiệp chưa có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ làm công tác đảng kiêm nhiệm nên chưa dành đủ thời gian cho nghiệp vụ.

III. Giải pháp phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp tại Phú Thọ

Để thúc đẩy công tác phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, Đảng ủy Khối cần triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá. Trước hết, công tác tuyên truyền và vận động phải được đổi mới toàn diện theo hướng thực chất, ngắn gọn và thuyết phục. Cần làm cho chủ doanh nghiệp thấy rõ việc thành lập tổ chức đảng là nhân tố hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững. Song song đó, quy trình kết nạp đảng viên mới cần được chuẩn hóa và linh hoạt về mặt thời gian. Đảng ủy Khối cần tổ chức các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng ngoài giờ hành chính hoặc vào ngày nghỉ. Hình thức sinh hoạt chi bộ cần ứng dụng công nghệ thông tin để tiết kiệm thời gian mà vẫn bảo đảm tính nghiêm túc. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe tâm tư và kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Việc xây dựng quy chế phối hợp mẫu giữa cấp ủy và ban lãnh đạo doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Đây là cơ sở pháp lý để tổ chức đảng hoạt động đúng tôn chỉ và phát huy tối đa vai trò lãnh đạo.

3.1. Đổi mới phương thức tuyên truyền và tạo nguồn kết nạp

Công tác tạo nguồn đảng viên cần tập trung vào các đoàn viên ưu tú, cán bộ quản lý và kỹ sư giỏi. Các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp như công đoàn cơ sở phải đóng vai trò nòng cốt trong việc phát hiện và giới thiệu quần chúng. Nội dung các lớp bồi dưỡng chính trị cần biên soạn cô đọng, bám sát quyền lợi và trách nhiệm của người lao động. Đổi mới phương pháp giảng dạy gắn liền với các tình huống thực tiễn sản xuất giúp người học dễ tiếp thu và hào hứng tham gia.

3.2. Linh hoạt hóa quy trình và nội dung sinh hoạt chi bộ

Nội dung sinh hoạt chi bộ phải gắn liền với việc tháo gỡ điểm nghẽn trong sản xuất kinh doanh và quản trị nhân sự. Chi bộ cần phân công đảng viên phụ trách từng tổ sản xuất nhằm nắm bắt kịp thời tâm tư người lao động. Thời gian tổ chức họp chi bộ cần bố trí linh hoạt theo ca kíp hoặc kết hợp họp trực tuyến để không làm gián đoạn dây chuyền sản xuất. Việc đổi mới này giúp nâng cao sức hút của tổ chức đảng đối với cả chủ doanh nghiệp và quần chúng lao động.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng tại doanh nghiệp ngoài nhà nước

Phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước là chủ trương đúng đắn và mang tính chiến lược lâu dài. Thực tiễn tại Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ chứng minh tổ chức đảng là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của doanh nghiệp. Nơi nào có tổ chức đảng vững mạnh, nơi đó quyền lợi người lao động được bảo đảm tốt hơn và hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra ổn định hơn. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các mô hình kinh tế tư nhân và FDI tiếp tục gia tăng nhanh chóng. Việc chủ động thích ứng và không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là yêu cầu cấp thiết. Mỗi đảng viên tại cơ sở phải thực sự trở thành một hạt nhân tiên phong, gương mẫu trong lao động và tuân thủ pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho công tác xây dựng Đảng tại địa phương. Các cấp ủy đảng có thể vận dụng linh hoạt những giải pháp đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động của chi bộ trong thời kỳ mới.

4.1. Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác xây dựng Đảng trong các thành phần kinh tế tư nhân và doanh nghiệp FDI. Kết quả nghiên cứu làm rõ các bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn hoạt động của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ. Các dữ liệu và phân tích khoa học cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu chính trị và cán bộ làm công tác tổ chức. Việc áp dụng đúng đắn lý luận vào thực tiễn giúp nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của các tổ chức cơ sở đảng.

4.2. Kiến nghị giải pháp nhân rộng mô hình hiệu quả

Các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các chi bộ đảng trong khu vực ngoài nhà nước hoạt động. Đảng ủy Khối cần thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết các mô hình chi bộ điển hình tiên tiến để nhân rộng trên toàn tỉnh. Chú trọng xây dựng quy chế phối hợp mẫu chuẩn chỉnh giữa tổ chức đảng, công đoàn và chủ sở hữu doanh nghiệp. Sự đồng thuận và hỗ trợ từ mọi phía là chìa khóa then chốt để công tác phát triển tổ chức đảng đạt hiệu quả bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths xdđcqnn phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước của đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phú thọ hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI KHU VỰC NHÀ NƯỚC CỦA ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH 1. Tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước - Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ 1. Doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước - Doanh nghiệp: Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất.

Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp, vì suy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm doanh nghiệp ở góc độ đó. Theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”. Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán.

Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [56,tr. Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ. 12 - Doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Trong các tác phẩm kinh điển của C. Lênin, khái niệm doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chưa được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể dưới dạng tường minh.

Tuy nhiên, Mác, Ăngghen, Lênin đã có nhiều tác phẩm phân tích sâu sắc về hình thức “đa chủ sở hữu” trong doanh nghiệp, tức là dạng doanh nghiệp cổ phần - một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong đó có các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước.Ăngghen, doanh nghiệp đa chủ sở hữu bao gồm nhiều loại, có loại cổ đông là tư nhân, những nhà tư bản, nhưng đều thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Trong một số tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen đã gọi các doanh nghiệp đa sở hữu đó là" công ty cổ phần của nhà tư bản tập thể" hoặc “công ty cổ phần trực tiếp mang hình thức tư bản xã hội, đối lập với tư bản tư nhân” [38,tr. Trong chính sách kinh tế mới (NEP) do V.Lênin khởi xướng và soạn thảo đã được Đại hội X Đảng Cộng sản Nga biểu quyết thông qua ngày 08/3/1921.Lênin phân tích sâu sắc năm thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước Nga khi đó: Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; CNXH. Trong đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế được V.Lênin luận giải rất cặn kẽ, đồng thời khẳng định có thể sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào mục đích xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH.

Chủ trương của Lênin là đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ. Mở rộng việc "để cho nông dân được tự do trao đổi, cả việc phát triển tiểu công nghiệp, để cho chủ nghĩa tư bản - là chủ nghĩa lớn lên trên cơ sở tiểu tư hữu và tiểu thương nghiệp - được đôi chút tự 13 do; chúng ta không sợ nó, vì đối với chúng ta, chủ nghĩa tư bản đó hoàn toàn không đáng sợ gì cả”[38,tr. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Tư tưởng về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Chủ tịch HCM được thể hiện rất sớm, ngay trong bài viết “Toàn dân kháng chiến” năm 1946, Người kêu gọi các nhà giàu có mau mau góp vốn lại để mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông, tích cực tăng gia sản xuất, lưu thông buôn bán và chính phủ mới sẽ bảo đảm không tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở kinh tế tư nhân. Trong sách "Thường thức chính trị" gồm 50 bài viết của Chủ tịch HCM, ký bút danh Đ.X đăng trên nhiều số báo Cứu quốc năm 1953, Người đã chỉ ra ở nước ta thời điểm đó đang tồn tại sáu thành phần kinh tế: kinh tế địa chủ phong kiến; kinh tế quốc doanh; kinh tế hợp tác xã; kinh tế cá thể; kinh tế tư bản của tư nhân và kinh tế tư bản quốc gia.

Chủ tịch HCM chỉ ra rằng: “Kinh tế tư bản tư nhân, họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần xây dựng kinh tế” còn “kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là CNXH” [44,tr. Người đánh giá cao những đóng góp của kinh tế tư nhân và chỉ ra chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải ủng hộ, khuyến khích sự phát triển đối với thành phần kinh tế này: “Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà.

Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân” [44,tr. Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, ngày 18/12/1959, trong "Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi" do Người trình bày đã xác định rõ, hiện nay trong nước ta có bốn hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất, đó là: Sở hữu của Nhà 14 nước tức là của toàn dân; Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; Sở hữu của người lao động riêng lẻ; Sở hữu của nhà tư bản. Với các thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và đối với tư sản dân tộc, quan điểm của Chủ tịch HCM lại một lần nữa khẳng định chủ trương nhất quán về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, trong đó có các DNNKVNN.

Đối với các thành phần kinh tế ngoài khu vực nhà nước thì dùng phương pháp hoà bình cải tạo mà không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác. Cụ thể là: Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện” [46,tr. Đối với những nhà tư sản công thương, "Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước” [46,tr.

Như vậy, theo Chủ tịch HCM thì ngoài thành phần kinh tế nhà nước ra, các thành phần kinh tế khác tồn tại trên đất nước ta là thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Trước đây trong các văn kiện Đảng và các văn bản của Nhà nước thường dùng các khái niệm “kinh tế quốc doanh” và “kinh tế ngoài quốc doanh”, “doanh nghiệp quốc doanh” và “doanh nghiệp ngoài quốc doanh” để phân biệt thành phần kinh tế hay doanh nghiệp đó thuộc sở hữu của Nhà nước hay không thuộc sở hữu của Nhà nước. Tiêu chí để phân biệt chủ yếu là vốn để xây dựng và 15 hoạt động của các thành phần kinh tế đó là của Nhà nước hay của tư nhân. Trong công cuộc đổi mới, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất đa dạng, các doanh nghiệp quốc doanh cũng biến đổi về sở hữu về tỷ lệ vốn,… đồng thời lại xuất hiện nhiều doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa tư nhân trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa Nhà nước với nước ngoài… Từ đó, khái niệm DNNKVNN cũng ra đời thay cho khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Trong các văn bản của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay, Đảng ta đều khẳng định đường lối đổi mới với chủ trương phát triển nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất khác nhau. Trong đó xác định, kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo, đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết phải chiếm tỷ trọng lớn ở mọi ngành nghề; tư nhân được phép kinh doanh không hạn chế về quy mô, địa bàn hoạt động và những ngành nghề mà luật pháp không cấm. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH đã được Đại hội VII thông qua (tháng 6-1991) xác định rõ về quan điểm của Đảng ta đối với phát triển các thành phần kinh tế ngoài nhà nước “Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức.

Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng. Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh” [13,tr. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định rõ hơn các thành phần kinh tế cấu thành nền kinh tế quốc dân hiện nay ở nước ta; vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế, trong đó có các DNNKVNN đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, thực hiện CNH, HĐH đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ