Luận văn bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cán bộ cấp xã tại Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cấp xã Hà Nội

Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại thành phố Hà Nội giữ vị trí chiến lược đặc biệt. Cấp xã là nền tảng của hệ thống chính trị địa phương. Cán bộ chủ chốt cơ sở trực tiếp tổ chức, điều hành mọi hoạt động kinh tế, xã hội và quốc phòng. Họ nắm giữ vai trò nòng cốt trong việc xử lý các tình huống an ninh ngay từ cơ sở. Địa bàn Thủ đô luôn là trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Do đó, chuẩn hóa nhận thức quân sự cho đội ngũ lãnh đạo xã mang ý nghĩa sống còn. Công tác bồi dưỡng trang bị hệ thống tri thức toàn diện về đường lối quân sự của Đảng. Chương trình đào tạo cung cấp phương pháp quản lý nhà nước về quốc phòng. Cán bộ xã được củng cố kỹ năng xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Quá trình này giúp nâng cao cảnh giác cách mạng trước âm mưu diễn biến hòa bình. Đồng thời, công tác giáo dục quốc phòng tạo sự đồng thuận chính trị sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Đội ngũ cán bộ cơ sở vững vàng sẽ đảm bảo an ninh trật tự đô thị lẫn nông thôn. Đây là tiền đề giữ vững ổn định chính trị, phục vụ phát triển kinh tế bền vững cho Thủ đô.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của cán bộ chủ chốt cấp xã

Cán bộ chủ chốt cấp xã gồm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cơ sở. Họ giữ vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo và điều hành mọi nhiệm vụ tại địa phương. Cán bộ cơ sở tại Hà Nội quản lý địa bàn phức tạp với tốc độ đô thị hóa cao. Họ trực tiếp xử lý các vấn đề xã hội và an ninh trật tự hàng ngày. Lực lượng này là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân. Năng lực và bản lĩnh của cán bộ cấp xã quyết định trực tiếp sự vững mạnh của hệ thống chính trị cơ sở.

1.2. Mục tiêu giáo dục quốc phòng an ninh cho cán bộ cơ sở

Mục tiêu trọng tâm của bồi dưỡng quốc phòng an ninh là nâng cao bản lĩnh chính trị và tư duy quân sự cho cán bộ. Khóa học trang bị kiến thức sâu rộng về Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh. Cán bộ được huấn luyện kỹ năng phân tích âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Họ học cách xây dựng kế hoạch phòng thủ dân sự và vận hành cơ chế lãnh đạo thời chiến. Công tác bồi dưỡng giúp cán bộ chủ động xử lý điểm nóng trật tự an toàn xã hội. Nội dung đào tạo gắn liền thực tiễn phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng. Kết quả học tập góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc.

II. Thực trạng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh tại Hà Nội

Công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho cán bộ xã tại Hà Nội đạt nhiều kết quả quan trọng. Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố luôn chỉ đạo sát sao các cấp ủy trực thuộc. Tỷ lệ cán bộ chủ chốt tham gia các lớp bồi dưỡng đạt chỉ tiêu hàng năm. Đội ngũ cán bộ nâng cao nhận thức chính trị, củng cố lập trường cách mạng. Họ chủ động vận dụng kiến thức quân sự vào giải quyết công việc hành chính. Kỹ năng tham mưu xây dựng khu vực phòng thủ cấp xã từng bước hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Một số cấp ủy cơ sở chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ quốc phòng. Việc cử cán bộ tham gia học tập đôi khi còn mang tính đối phó. Nội dung chương trình giảng dạy chậm đổi mới, nặng lý luận trừu tượng. Phương pháp truyền thụ chưa gắn sâu với đặc thù phức tạp của đô thị loại đặc biệt. Ý thức tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng của một bộ phận cán bộ chưa cao. Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy tại một số trung tâm chính trị cấp huyện còn thiếu thốn.

2.1. Ưu điểm và chuyển biến tích cực trong nhận thức cán bộ

Nhận thức của cán bộ chủ chốt cấp xã về nhiệm vụ quốc phòng an ninh có bước chuyển biến rõ rệt. Đa số cán bộ thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong quá trình học tập. Họ nắm chắc các quan điểm cốt lõi của Đảng về bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Việc phối hợp giữa lực lượng quân sự, công an và chính quyền xã ngày càng chặt chẽ. Cán bộ xã chủ động xử lý các tình huống phức tạp về an ninh nông thôn và trật tự đô thị. Năng lực xây dựng kế hoạch phòng thủ dân sự được cải thiện đáng kể. Khả năng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyển quân hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu.

2.2. Tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

Chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh vẫn còn một số điểm nghẽn. Một số cấp ủy địa phương chậm cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn của cấp trên. Công tác quản lý học viên tại một số lớp học chưa thực sự nghiêm túc. Phương pháp giảng dạy còn thiên về thuyết trình một chiều, ít thảo luận tình huống thực tế. Tài liệu bồi dưỡng chưa cập nhật kịp thời các thách thức an ninh phi truyền thống. Cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ phục vụ đào tạo còn hạn chế. Ngoài ra, khối lượng công việc chuyên môn lớn khiến cán bộ khó tập trung hoàn thành trọn vẹn khóa học.

III. Giải pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho cán bộ xã

Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho cán bộ xã ở Hà Nội, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước hết, các cấp ủy Đảng phải tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo. Cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác quốc phòng trong tình hình mới. Thứ hai, chương trình đào tạo cần được đổi mới toàn diện theo hướng thực tiễn và hiện đại. Nội dung giảng dạy phải gắn chặt với thực tiễn an ninh đô thị và phòng chống tội phạm công nghệ cao. Thứ ba, phương pháp bồi dưỡng cần chuyển dịch mạnh mẽ sang xử lý tình huống và diễn tập thực nghiệm. Giảng viên cần tăng cường thảo luận nhóm, giải quyết các vụ việc khiếu kiện phức tạp tại cơ sở. Thứ tư, cần kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên. Cần chuẩn hóa tiêu chuẩn giảng viên về cả lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế. Cuối cùng, các cơ quan chức năng cần đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục quốc phòng. Đánh giá kết quả học tập phải thực chất, lấy năng lực giải quyết công việc làm thước đo chính.

3.1. Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy

Đổi mới nội dung giảng dạy là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng. Khung chương trình cần cập nhật các vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh mạng, phòng chống bạo loạn lật đổ. Phương pháp giảng dạy cần giảm thuyết trình thụ động, tăng thời lượng thực hành xử lý tình huống. Giảng viên đưa các vụ việc tranh chấp đất đai, tụ tập đông người thực tế vào bài tập tình huống. Việc tổ chức diễn tập cơ chế phòng thủ cấp xã giúp cán bộ rèn luyện kỹ năng chỉ huy tác chiến. Ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu số hóa giúp cán bộ chủ động tiếp thu kiến thức hiệu quả.

3.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của cấp ủy

Cấp ủy cấp huyện và xã phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo chi tiết, phân loại đối tượng hợp lý theo từng chức danh cán bộ. Cấp ủy phải gắn kết quả hoàn thành khóa bồi dưỡng với tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm cán bộ hàng năm. Công tác kiểm tra, giám sát quá trình học tập cần tiến hành thường xuyên, nghiêm túc. Đồng thời, cấp ủy cần tạo điều kiện bố trí thời gian, ngân sách cho cán bộ tham gia học tập đầy đủ. Tinh thần nêu gương của người đứng đầu là động lực thúc đẩy tinh thần tự học của cán bộ.

IV. Giá trị ứng dụng bồi dưỡng quốc phòng an ninh cơ sở Hà Nội

Nghiên cứu về bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho cán bộ chủ chốt cấp xã mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước cung cấp luận cứ khoa học vững chắc. Hệ thống giải pháp đề xuất có khả năng áp dụng trực tiếp vào công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ tại thành phố Hà Nội. Kết quả đào tạo chuẩn hóa giúp nâng cao năng lực ứng phó khủng hoảng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân. Sự ổn định chính trị tại từng xã, phường tạo nền tảng vững chắc cho toàn thành phố phát triển kinh tế bền vững. Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các viện nghiên cứu, trường chính trị và cơ quan quân sự các cấp. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, việc giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở là yêu cầu sống còn. Đầu tư cho giáo dục quốc phòng chính là đầu tư cho sự phát triển lâu dài của Thủ đô. Năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã sẽ quyết định hiệu quả thực thi chủ trương, đường lối của Đảng trong giai đoạn mới.

4.1. Ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý địa phương

Các giải pháp nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho chính quyền cơ sở trong quản lý địa bàn. Cán bộ chủ chốt vận dụng kiến thức để xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với phát triển kinh tế xã hội. Việc xử lý các tranh chấp dân sự, khiếu kiện đất đai được tiến hành đúng pháp luật và đảm bảo ổn định chính trị. Năng lực lãnh đạo lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên được nâng cao rõ rệt. Chính quyền xã chủ động phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm các nguy cơ mất an ninh trật tự. Điều này củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương.

4.2. Định hướng nghiên cứu mở rộng trong xây dựng chính quyền

Đề tài mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về chuẩn hóa chức danh cán bộ lãnh đạo cơ sở. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên các mô hình chính quyền đô thị đặc thù. Cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa quân sự, công an và dân sự trong thời đại số. Việc tích hợp công nghệ thông tin vào quản lý an ninh cơ sở là hướng đi cấp thiết. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực vào kho tàng lý luận xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Đây là cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đào tạo cán bộ cơ sở trong kỷ nguyên mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths xdđcqnn bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố hà nội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG, AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1. Cấp xã và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã 1. Khái quát một số nét cơ bản về cấp xã Theo bản Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định tại chương thứ 9: CHƯƠNG IX: HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN Điều 118 Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định.

Theo đó Việt Nam có 3 cấp hành chính: - Cấp tỉnh: Sau nhiều lần chia tách, nhập lại, tính đến nay,(00:24, thứ Tư ngày 22 tháng 4, năm 2015 (UTC), Việt Nam có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương. - Cấp huyện Đây là cấp hành chính cấp 2 của Việt Nam, thấp hơn (về thẩm quyền), và thông thường thì cấp này cũng có quy mô dân số, diện tích, kinh tế nhỏ hơn cấp tỉnh. Đây là cấp hành chính cao hơn cấp xã, phường, thị trấn. Cấp hành chính này có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp hành chính nó trực thuộc, gồm "Huyện", "Quận", "Thị xã", "Thành phố trực thuộc tỉnh".

Gọi tuần 8 tự theo mức đô thị hóa. Trong đó, quận không có trong tỉnh, chỉ áp dụng cho các đơn vị nội thành của thành phố thuộc trung ương. Thành phố trực thuộc tỉnh không có trong thành phố thuộc trung ương. Ở nông thôn và ở các Huyện thuộc thành phố, thị xã thì gọi là Xã; ở các Quận thuộc thành phố thì gọi là Phường hoặc Thị trấn.

Đứng đầu xã (phường, thị trấn) là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) do Hội đồng nhân dân xã (phường, thị trấn) bầu ra. Hội đồng nhân dân xã được cử tri trong xã (phường, thị trấn) bầu ra 5 năm một lần, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, dân chủ,trực tiếp và bỏ phiếu kín. Bên cạnh Chủ tich, có Phó chủ tịch phụ trách một số việc được giao. Bộ máy làm việc của xã (phường, thị trấn) gồm có các Ban: Công an, Tư pháp, Tài chính, Thương binh - Xã hôi, Văn hóa., với các Trưởng ban, Phó ban và một số nhân viên (nếu có).

Các công chức xã ăn lương theo chế độ bằng cấp và ngạch bậc do Nhà nước quy định. Thuộc cơ quan xã (phường, thị trấn), còn có các tổ chức Hội, Đoàn thể, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy (như Hội Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Khuyến học, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh v. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã 1.Khái niệm Từ trước đến nay, khái niệm cán bộ thường được dùng ở các nước XHCN. Việc nghiên cứu làm rõ khái niệm này đã có không ít đề tài đề cập đến nhưng ý kiến lại khác nhau.

Ở nước ta, trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư chưa có từ cán bộ. Trong cuốn từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1993 thì cán bộ có hai nghĩa, đó là: Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước và là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ. 9 Quan niệm đúng nhất hiện nay (trích trong Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) thì: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức. Nó tác động, ảnh hưởng đến hoạt động và các quan hệ trong lănh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 thì: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Vậy theo Hồ Chí Minh cán bộ có bốn đặc trưng sau: Cán bộ là người tiếp thu đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ. Hai là, cán bộ là người đưa đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ vào trong quần chúng, đưa nhân tố tự giác vào quần chúng.

Ba là, cán bộ là người tổ chức cho quần chúng tham gia cách mạng. Bốn là, cán bộ là người thường xuyên rút kinh nghiệm, sơ kết, tổng kết công tác. Tất cả những điều này đều chứng tỏ cán bộ là cầu nối của Đảng và nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là công bộc của dân”. Cán bộ là vậy nhưng cán bộ chủ chốt thì có gì khác và dựa vào đâu để xác định thì cần có một số tiêu chí sau: Thứ nhất, trong một hệ thống có nhiều tổ chức hợp thành và mỗi tổ chức nắm một vai trò nhất định trong guồng máy hoạt động đó nhưng phải xác định được đâu là tổ chức nắm vai trò quyết định và chủ chốt, có vai trò quyết định trọng yếu đến sự phát triển của hệ thống đó.

10 Thứ hai, đất nước ta thực hiện nguyên tắc là tập thể lãnh đạo, các cá nhân phụ trách do vậy khi đã xác định được tổ chức nào chủ yếu nhất thì trong tổ chức đó cần có người đứng đầu, nắm vai trò lãnh đạo cả hệ thống và giữ cương vị quyết định xu hướng vận động, phát triển của tổ chức đó. Xuất phát từ những tiêu chí đó chúng ta có thể khẳng định cán bộ chủ chốt là cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bác Hồ đã nói cán bộ là gốc của mọi công việc thì cán bộ chủ chốt chính là cái gốc của cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu như sau: Cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị công tác, sản xuất kinh doanh, có trách nhiệm đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng để đạt những mục tiêu nhất định, phân công nhiệm vụ, chỉ đạo cán bộ công chức của mình hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.

Cán bộ chủ chốt giỏi thì tổ chức đó sẽ mạnh, nâng cao được hiệu quả, chất lượng công tác. Hệ thống hành chính nước ta được chia theo chiều dọc làm 4 cấp đó là: Trung ương, Tỉnh, Huyện và Xã, trong đó Trung ương là cấp cao nhất và có vai trò chỉ đạo toàn bộ hoạt động của toàn Đảng và Nhà nước nhưng cấp xã được gọi là cấp cơ sở lại có vai trò không kém phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống. Đó chính là nơi gần dân nhất và quyết định trong việc đưa đường lối của Đảng xuống với nhân dân. Vì vậy, cán bộ chủ chốt cấp xã phải được hiểu một cách thấu đáo.

Từ quan niệm cán bộ và cán bộ chủ chốt cấp xã đã cho thấy về cán bộ chủ chốt cấp xã như sau: Nói cán bộ chủ chốt cấp xã tức là cán bộ Đảng, cán bộ của Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị cấp xã. Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp. Mỗi tổ chức có vai trò khác nhau nhưng lại phối hợp với nhau để cùng 11 thực hiện vai trò lãnh đạo và quản lý đất nước nhằm xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội. Ứng với mỗi tổ chức ở cấp tỉnh, huyện, xã là: Đảng bộ, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trực thuộc và cấp xã cũng tương tự.

Như vậy, cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu và chịu trách nhiệm ở các tổ chức và cơ quan đó. Đương nhiên, một người không thể nắm toàn bộ công việc của một tổ chức và quyết định được mà phải có sự kết hợp và đồng tình của nhiều người trong tổ chức. Trong tổ chức Đảng thì Bí thư nắm vai trò đứng đầu, Ủy ban thì là chủ tịch tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách nên khi quyết định vấn đề liên quan đến tổ chức thì đòi hỏi phải có sự thảo luận và đồng tình ủng hộ của tất cả các thành viên tổ chức đó, đảm bảo cho hoạt động tổ chức được công khai và dân chủ hơn. Vậy, cán bộ chủ chốt cấp xã tức là những người đứng đầu, chịu trách nhiệm quyết định đường lối, phương hướng, hoạt động của mọi tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp xã.

Nhưng chức danh cán bộ chủ chốt cấp xã phải đặt trong tổ chức và hoàn cảnh cụ thể nhất định, bởi trong từng hoàn cảnh thì nó không phải là cán bộ chủ chốt nữa. Theo kết quả nghiên cứu của đề tài: “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới” của PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên xác định cán bộ chủ chốt cấp xã gồm có: Bí thư đảng ủy, Chủ tịch ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Bí thư thường trực đảng ủy, Chủ tịch hội nông dân (xã), Chủ tịch liên đoàn lao động (Phường, thị trấn). Nhưng nếu xét các tổ chức trong hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước thì ngoài những chức danh đã nêu trên thì theo tác giả cán bộ chủ chốt cấp xã phải bổ sung thêm cả những chức danh sau: Chủ tịch hội Phụ nữ, Chủ 12 tịch Hội cựu chiến binh và Bí thư đoàn thanh niên. Bởi so với các cấp khác thì các chức danh này không cần thiết nhưng với cấp Xã, phường được xem là cơ sở của xã hội, là nơi cư trú, sinh sống của người dân, nơi thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối trực tiếp giữa dân với Đảng.

Mối quan hệ công tác của hệ thống chính trị cơ sở thể hiện trong cơ chế tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ