Luận văn: Nguồn nhân lực trong CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại Bắc Ninh.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nguồn nhân lực công nghiệp hóa nông thôn Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng sau khi tái lập tỉnh. Cơ cấu kinh tế địa phương chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, khu vực nông thôn vẫn giữ tỷ trọng lớn về mặt dân số và lực lượng lao động. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Lực lượng lao động nông thôn là chủ thể trực tiếp thực hiện việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đây cũng là nhân tố quyết định tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mô hình kinh tế trang trại. Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp giải quyết bài toán năng suất lao động và gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Việc nghiên cứu toàn diện thực trạng nguồn nhân lực nông thôn mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh Bắc Ninh.

1.1. Bối cảnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Bắc Ninh

Sau khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP gia tăng nhanh chóng qua từng năm. Ngược lại, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản giảm dần nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định an sinh xã hội. Quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp tập trung làm thu hẹp diện tích đất canh tác. Đất nông nghiệp giảm đặt ra áp lực lớn đối với sinh kế của nông dân địa phương. Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp đòi hỏi phương thức canh tác hiện đại, cơ giới hóa đồng bộ và quy trình sản xuất chuyên nghiệp.

1.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với kinh tế nông thôn

Nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định sự thành bại của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp. Trình độ chuyên môn của người lao động tác động trực tiếp đến khả năng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới. Người nông dân có kỹ năng tốt sẽ vận hành hiệu quả máy móc cơ giới và áp dụng tiến bộ sinh học vào sản xuất. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng giúp nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới. Việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn tạo điều kiện phân luồng lao động sang các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ phụ trợ.

II. Thực trạng nguồn nhân lực công nghiệp hóa nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tại Bắc Ninh có sự chuyển biến nhưng tốc độ còn chậm so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm dần nhưng quy mô số lượng tuyệt đối vẫn ở mức cao. Phần lớn lao động nông thôn thiếu kỹ năng chuyên môn kỹ thuật và chứng chỉ nghề nghiệp chính quy. Tình trạng thiếu việc làm theo mùa vụ và thất nghiệp cục bộ có xu hướng gia tăng tại các vùng bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ dự án công nghiệp. Bên cạnh đó, thể lực và sức khỏe của lực lượng lao động nông thôn còn nhiều hạn chế, tỷ lệ mắc bệnh thông thường tương đối cao. Sự chênh lệch về mức sống và điều kiện thụ hưởng văn hóa giữa nông thôn và thành thị vẫn tồn tại rõ rệt. Đội ngũ lao động trẻ có xu hướng ly hương hoặc chuyển hẳn sang khu vực sản xuất công nghiệp, dẫn tới hiện tượng già hóa lao động trực tiếp trong ngành nông nghiệp.

2.1. Cơ cấu và trình độ chuyên môn của lao động nông thôn

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại các vùng nông thôn Bắc Ninh còn ở mức thấp so với yêu cầu phát triển. Đa số nông dân tiếp thu kiến thức canh tác thông qua truyền nghề gia đình và kinh nghiệm thực tiễn. Kiến thức về thị trường, an toàn sinh học và quy trình quản lý chất lượng nông sản còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật nông nghiệp cơ sở và quản lý hợp tác xã còn mỏng, thiếu cập nhật công nghệ mới. Sự thiếu hụt lao động có tay nghề cao cản trở việc nhân rộng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ.

2.2. Vấn đề việc làm và áp lực chuyển dịch lao động

Việc hình thành các khu công nghiệp lớn thu hồi diện tích đất canh tác đáng kể của người nông dân Bắc Ninh. Người lao động lớn tuổi tại khu vực nông thôn gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp FDI. Tình trạng thiếu việc làm lúc nông nhàn dẫn đến thu nhập bình quân bấp bênh và bất bình đẳng kinh tế gia tăng. Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra tự phát, thiếu tính định hướng bền vững. Hệ thống thông tin thị trường lao động và dịch vụ giới thiệu việc làm tại khu vực nông thôn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.

III. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn tại tỉnh Bắc Ninh

Để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tỉnh Bắc Ninh cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp đột phá. Trọng tâm hàng đầu là đổi mới căn bản mạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo nhu cầu thị trường. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và hợp tác xã nhằm xây dựng chương trình giảng dạy thực tiễn. Tỉnh cần tăng cường đầu tư ngân sách cho hạ tầng y tế, giáo dục và thiết chế văn hóa cơ sở tại các vùng nông thôn. Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao thể chất cho người lao động là nền tảng bảo đảm năng suất lao động bền vững. Ngoài ra, chính quyền địa phương cần ban hành chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi, khuyến khích nông dân khởi nghiệp và phát triển kinh tế tập thể. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội và dịch vụ tư vấn việc làm giúp người lao động nông thôn chủ động thích ứng với biến động kinh tế.

3.1. Đổi mới đào tạo nghề và nâng cao trình độ kỹ thuật

Chính quyền địa phương cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn cho nông dân. Chương trình đào tạo cần tập trung vào kỹ năng vận hành máy móc hiện đại, kỹ thuật chế biến bảo quản sau thu hoạch và kỹ năng thương mại điện tử. Mô hình liên kết ba nhà gồm nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp cần được thể chế hóa rõ ràng. Tỉnh cần hỗ trợ học phí và chi phí sinh hoạt cho con em nông dân thuộc diện thu hồi đất khi theo học các ngành kỹ thuật. Khuyến khích các nghệ nhân làng nghề tham gia truyền dạy kỹ năng thủ công truyền thống kết hợp thiết kế hiện đại.

3.2. Cải thiện đời sống văn hóa y tế và an sinh xã hội

Nâng cấp cơ sở vật chất của trạm y tế xã là giải pháp quan trọng nhằm giảm tỷ lệ bệnh tật cho người dân nông thôn. Tỉnh cần đẩy mạnh các chương trình dinh dưỡng học đường và y tế dự phòng tại các vùng huyện thuần nông. Việc xây dựng nhà văn hóa, sân thể thao và điểm sinh hoạt cộng đồng giúp nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động. Đẩy mạnh chính sách bảo hiểm y tế toàn dân và bảo hiểm nông nghiệp giúp giảm thiểu rủi ro sinh kế. Môi trường sống văn minh tạo tiền đề vững chắc cho việc thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao tại quê hương.

IV. Kết luận về nguồn nhân lực công nghiệp hóa nông nghiệp Bắc Ninh

Phát triển nguồn nhân lực là chìa khóa then chốt quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chuyển đổi kinh tế đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cả thể lực, trí lực và kỹ năng thực hành của người lao động. Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách địa phương. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về đào tạo, y tế, văn hóa và việc làm sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nông thôn Bắc Ninh phát triển văn minh, giàu đẹp. Đây là bước đi tất yếu nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực nông thôn và đô thị, bảo đảm công bằng xã hội.

4.1. Giá trị ứng dụng vào hoạch định chính sách kinh tế

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ kinh tế đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan quản lý có thể sử dụng các số liệu thực chứng để điều chỉnh quy hoạch phân bổ nguồn nhân lực theo từng tiểu vùng. Đề tài hỗ trợ các cơ quan chức năng xây dựng đề án đào tạo nghề trọng điểm phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp địa phương. Nghiên cứu cũng đề xuất cơ chế phối hợp liên ngành giữa lao động, nông nghiệp và tài chính nhằm tối ưu hóa các nguồn lực đầu tư.

4.2. Định hướng phát triển bền vững nông thôn Bắc Ninh

Trong tương lai dài hạn, Bắc Ninh cần kiên trì mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp đô thị sinh thái kết hợp du lịch làng nghề. Nguồn nhân lực nông thôn chất lượng cao sẽ là lực lượng nòng cốt vận hành mô hình kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị nông sản khép kín. Việc giữ vững bản sắc văn hóa Kinh Bắc kết hợp với tư duy kinh tế thị trường hiện đại tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn. Tỉnh cần tiếp tục duy trì các chính sách an sinh xã hội bền vững, bảo đảm người nông dân thực sự là chủ thể và đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nước ta 1. Bản chất và nội dung Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước đã được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội lần thứ III (năm 1960). Đến Đại hội lần thứ VII và VIII, Đảng ta nhấn mạnh thêm nội dung hiện đại hóa và coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu của sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp là chủ yếu thành một nước công nghiệp.

Đó cũng là con đường cơ bản để thực hiện mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 4/2001 tiếp tục khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn là nội dung cơ bản của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Sau 20 năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đã bước vào giai đoạn phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đây là sự tiếp nối đường lối và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng.

Chỉ có đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức mới có thể đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản đã trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy vậy, trong những năm đầu thế kỷ XXI, công nghiệp hóa, hiện 7 đại hóa nước ta trước hết và chủ yếu là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là vấn đề rộng lớn và phức tạp, vì thế cho đến nay vẫn còn có những quan niệm ít nhiều chưa thống nhất. * Một số nhà nghiên cứu cho rằng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là vấn đề khoa học bao gồm 4 nội dung khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau.

Đó là: Công nghiệp hóa nông nghiệp; công nghiệp hóa nông thôn; hiện đại hóa nông nghiệp; hiện đại hóa nông thôn. Công nghiệp hóa nông nghiệp, theo tác giá Chu Hữu Quý và Nguyễn Kế Tuấn là: Quá trình chuyển biến từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán sang nền nông nghiệp sản xuất lớn với trình độ chuyên canh và thâm canh cao, tiến hành sản xuất và quản lý sản xuất - kinh doanh với trình độ trang bị công nghiệp và công nghệ tiên tiến, áp dụng rộng rãi thủy lợi hóa, cơ khí hóa, hóa học hóa, điện khí hóa, sinh học hóa cao hơn và bước đầu áp dụng cả tin học hóa, tự động hóa [47, tr. Cũng theo các tác giả trên thì phạm vi, tính chất của công nghiệp hóa nông thôn sâu rộng hơn nhiều, thể hiện qua ba điểm: Thứ nhất, nó là quá trình biến đổi không phải trong từng ngành sản xuất hay từng lĩnh vực xã hội đơn lẻ, mà là một quá trình biến đổi toàn diện trong một khu vực xã hội rộng lớn là nông thôn, bao quát mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị tại đó. Thứ hai, nó phải phát triển một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng, một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy đủ và hữu hiệu.

8 Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cùng với các ngành kinh tế phát triển, một hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội dần dần được hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hóa, các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế được nâng cấp, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, tạo ra một lối sống công nghiệp năng động, cởi mở, văn minh. Nhóm các nhà nghiên cứu khác, về cơ bản tán đồng với quan điểm trên và nhấn mạnh trong ba mặt biểu hiện (đặc trưng điển hình) của công nghiệp hóa nông thôn nêu dưới đây đã bao hàm cả yếu tố hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự biến đổi toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của một vùng xã hội nông thôn. Nó khác với công nghiệp hóa nông nghiệp ở chỗ công nghiệp hóa nông nghiệp phản ánh sự biến đổi chỉ đối với một ngành cụ thể - ngành nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - thủy sản). Tất nhiên nói như vậy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi lẻ khi nông nghiệp được công nghiệp hóa chắc chắn sẽ động tới các mặt khác của xã hội nông thôn.

Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự thay đổi một cách căn bản kết cấu kinh tế - xã hội nông thôn. Kết cấu kinh tế của một vùng nông thôn được công nghiệp hóa phản ánh một cơ cấu ngành tích cực, trong đó có một nền nông nghiệp đa dạng đã được công nghiệp hóa ở trình độ cao là nền tảng, một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến và một hệ thống dịch vụ hiệu quả. Về kết cấu xã hội, đặc biệt là kết cấu lao động cũng có sự thay đổi: Tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Công nghiệp hóa nông thôn còn được phản ánh qua sự phát triển bằng một hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng ngày 9 càng hiện đại; đồng thời các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế có sự biến đổi rõ nét về chất, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, một lối sống công nghiệp văn minh được hình thành [44, tr.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa nông thôn ở nước ta, cần chú ý một số điểm sau: Một là, công nghiệp hóa nông thôn tất yếu phải kéo theo sự phát triển công nghiệp nông thôn và do đó phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hóa nông thôn, mặt khác công nghiệp hóa nông thôn bao hàm cả công nghiệp hóa nông nghiệp. Mặc dù vậy cũng không nên chỉ dùng thuật ngữ công nghiệp hóa nông thôn và mà không nói đến công nghiệp hóa nông nghiệp. Vì trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn thì vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp vừa là quan trọng, vừa như là một thách thức. Hai là, công nghiệp hóa nông thôn đúng hướng tất yếu phải góp phần thúc đẩy các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn vùng tăng với tốc độ ngày càng nhanh và cao hơn so với vùng nông thôn đó trong điều kiện không được công nghiệp hóa.

Đồng thời làm thay đổi cơ cấu về tỷ lệ đóng góp của các ngành vào GDP và thu nhập. GDP của các vùng nông thôn được công nghiệp hóa phải có tỷ trọng cao của phần đóng góp từ công nghiệp và dịch vụ, do đó phần đóng góp của nông nghiệp ngày càng giảm đi về tỷ lệ, nhưng quy mô tuyệt đối ngày càng tăng về cơ cấu và thu nhập của dân cư cũng có kết quả tương tự. Hiện đại hóa nông nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông nghiệp. Đặc trưng nổi bật của hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ 10 khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp.

Đây cũng là quá trình cần được thực hiện một cách liên tục vì luôn có những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất. Hiện đại hóa nông thôn là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, tạo ra một nền sản xuất trình độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh và tiến bộ. Hiện đại hóa nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hóa, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực khác trong sản xuất vật chất ở nông thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Hệ thống giáo dục đào tạo, y tế và các dịch vụ phục vụ đời sống nông thôn. Về bản chất, hiện đại hóa là quá trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn.

Hiện đại hóa hoàn toàn không có nghĩa là xóa bỏ toàn bộ những gì đã tạo dựng trong quá khứ, càng không có nghĩa là phải đưa toàn bộ công nghệ, thiết bị tiên tiến và hiện đại vào nông thôn ngay một lúc mà là tận dụng, cải tiến, hoàn thiện, từng bước nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ và tổ chức quản lý nền sản xuất và đời sống xã hội ở nông thôn lên ngang tầm với trình độ thế giới. Từ những phân tích trên, ta thấy vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn liên quan đến 4 khía cạnh có nội dung khác nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: công nghiệp hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn. Bốn khái niệm trên có quan hệ mật thiết với nhau: ở công nghiệp hóa nông thôn bao hàm công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn bao hàm hiện đại hóa nông nghiệp và giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng có quan hệ mật thiết với nhau. Công nghiệp hóa đã phần nào phản ánh trình độ nhất định của hiện đại hóa và ngược lại.

Hiện đại hóa là yêu cầu đối với công nghiệp hóa nhất là trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công 11 nghệ trên thế giới đang phát triển nhanh như vũ bão; xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi công nghiệp hóa phải là quá trình hiện đại hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ