Luận văn: Mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế về hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình phân tích sâu sắc quá trình chuyển dịch kinh tế nông thôn. Tỉnh Thái Bình sở hữu tiềm năng sản xuất lúa nước và nông sản hàng hóa lớn tại đồng bằng sông Hồng. Việc chuyển đổi mô hình hợp tác xã từ kiểu cũ sang kiểu mới theo Luật Hợp tác xã mang tính tất yếu khách quan. Hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ và tự chịu trách nhiệm tài chính. Tổ chức này không trực tiếp can thiệp vào ruộng đất của hộ gia đình. Thay vào đó, hợp tác xã tập trung cung ứng dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh nông nghiệp hiệu quả. Các dịch vụ trọng tâm bao gồm thủy lợi, giống cây trồng, bảo vệ thực vật và cơ giới hóa đồng ruộng. Mô hình giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất cây trồng cho nông dân. Sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại Thái Bình tạo tiền đề vững chắc cho việc hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn. Đề tài luận văn thạc sĩ khẳng định vị trí trung tâm của kinh tế tập thể trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp địa phương.

1.1. Bối cảnh hình thành và cơ sở pháp lý

Quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp Việt Nam đòi hỏi sự thay đổi toàn diện về mô hình hợp tác xã. Luật Hợp tác xã năm 1996 và năm 2003 tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc chuyển đổi tổ chức kinh tế tập thể. Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác xã. Tại Thái Bình, cơ chế thị trường thúc đẩy việc xóa bỏ phương thức quản lý tập trung quan liêu bao cấp trước đây. Các hợp tác xã nhanh chóng chuyển đổi tư cách pháp nhân để thích ứng với môi trường kinh doanh mới. Việc tái cấu trúc này tạo bước ngoặt lớn cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển.

1.2. Bản chất kinh tế và vai trò của mô hình

Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới lấy kinh tế hộ gia đình làm đơn vị tự chủ sản xuất cơ bản. Hợp tác xã đóng vai trò bà đỡ cung cấp các dịch vụ đầu vào và tìm kiếm thị trường đầu ra. Mục tiêu hoạt động chính là phục vụ thành viên thay vì tối đa hóa lợi nhuận đơn thuần. Mô hình này bảo vệ quyền lợi kinh tế của xã viên trước biến động giá cả thị trường. Đồng thời, tổ chức kinh tế tập thể tạo mối liên kết cộng đồng bền chặt và hỗ trợ xây dựng nông thôn mới văn minh. Sự tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên giúp tăng cường năng lực cạnh tranh cho nông sản địa phương.

II. Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình

Thực tiễn phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn lớn. Phần lớn các hợp tác xã đã tinh gọn bộ máy quản lý và xác định rõ chức năng dịch vụ. Cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được củng cố nhờ nguồn hỗ trợ từ ngân sách và đóng góp của thành viên. Tuy nhiên, nhiều đơn vị chuyển đổi còn mang tính hình thức và chưa tạo được đột phá về doanh thu. Nguồn vốn hoạt động của các hợp tác xã nhìn chung còn rất mỏng và khó tiếp cận tín dụng thương mại dài hạn. Khả năng liên kết với doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối lớn còn hạn chế. Thu nhập bình quân của cán bộ hợp tác xã thấp dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Đa số cán bộ quản lý lớn tuổi và chưa qua đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh thị trường. Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong vận hành quản lý còn chậm. Những rào cản này làm suy giảm sức cạnh tranh của nông sản Thái Bình trên thị trường.

2.1. Hạn chế về vốn và hạ tầng kỹ thuật

Quy mô vốn điều lệ của các hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Bình hiện nay phần lớn ở mức thấp. Khả năng tích lũy tài chính từ các dịch vụ nội bộ chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất. Các tổ chức tín dụng thường yêu cầu tài sản thế chấp có giá trị cao khi xét duyệt hồ sơ vay vốn. Hệ thống kho bãi bảo quản, sân phơi và máy móc chế biến sau thu hoạch của nhiều đơn vị đã xuống cấp nghiêm trọng. Việc thiếu hụt hạ tầng đồng bộ làm gia tăng tỷ lệ tổn thất nông sản sau thu hoạch. Tình trạng này cản trở đáng kể tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp địa phương.

2.2. Bất cập trong năng lực quản trị bộ máy

Đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã giữ vai trò quyết định đến hiệu quả kinh doanh của đơn vị. Tuy nhiên, tỷ lệ chủ nhiệm và kế toán trưởng chưa qua đào tạo chuyên môn tại Thái Bình vẫn còn đáng kể. Tư duy kinh doanh theo phong cách hành chính bao cấp cũ vẫn tồn tại ở một số cơ sở. Năng lực xây dựng phương án sản xuất kinh doanh và đàm phán hợp đồng thương mại còn yếu. Tình trạng này khiến hợp tác xã lúng túng khi thị trường nông sản biến động bất lợi. Nguồn lực con người trở thành điểm nghẽn lớn nhất cần tháo gỡ kịp thời.

III. Giải pháp cho hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình, địa phương cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược. Trước hết, chính quyền tỉnh cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai và nguồn vốn vay ưu đãi. Việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa đồng bộ. Hợp tác xã cần chủ động mở rộng các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng cao như chế biến, bảo quản lạnh và cung ứng vật tư chất lượng. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị 'bốn nhà' gồm nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông là hướng đi then chốt. Cần áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm như VietGAP và chứng nhận OCOP để nâng tầm nông sản Thái Bình. Công tác đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã cần được triển khai thường xuyên. Ngoài ra, việc ứng dụng thương mại điện tử giúp hợp tác xã mở rộng thị trường tiêu thụ trực tiếp đến người tiêu dùng.

3.1. Đổi mới phương thức quản trị và nhân sự

Hợp tác xã cần thực hiện chính sách thu hút nhân lực trẻ có chuyên môn về nông nghiệp và kinh tế thị trường. Cần xây dựng cơ chế trả thù lao và phân phối lợi nhuận thỏa đáng gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các khóa tập huấn ngắn hạn về kỹ năng lập kế hoạch tài chính, đàm phán và chuyển đổi số phải được tổ chức liên tục. Việc chuẩn hóa quy trình quản trị nội bộ sẽ nâng cao tính minh bạch tài chính. Minh bạch giúp củng cố niềm tin và sự gắn kết của các hộ thành viên. Bộ máy tinh gọn giúp hợp tác xã phản ứng nhanh nhạy trước thị trường.

3.2. Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông sản

Liên kết sản xuất với các doanh nghiệp đầu mối bao tiêu nông sản là giải pháp quan trọng nhằm ổn định đầu ra. Hợp tác xã đứng ra làm đầu mối đại diện cho nông dân ký kết hợp đồng tiêu thụ quy mô lớn. Việc kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP giúp nâng cao giá trị hàng hóa. Hợp tác xã cũng cần chú trọng xây dựng nhãn hiệu chứng nhận địa phương và tem truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm có thương hiệu rõ ràng sẽ dễ dàng thâm nhập các siêu thị lớn. Chuỗi liên kết bền vững giúp giảm thiểu rủi ro ép giá cho nông dân.

IV. Định hướng cho hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế khẳng định mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Thái Bình là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy nông nghiệp địa phương phát triển bền vững. Đổi mới kinh tế tập thể không chỉ mang lại lợi ích tài chính trực tiếp cho nông dân mà còn giữ vững ổn định chính trị xã hội nông thôn. Việc hiện thực hóa các giải pháp nêu trên sẽ biến các hợp tác xã thành những chủ thể kinh tế năng động và thích ứng tốt trước áp lực hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn tới, Thái Bình cần nhân rộng các mô hình hợp tác xã điển hình tiên tiến và ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao. Thành công của mô hình sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách địa phương. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý kinh tế tập thể trên toàn địa bàn tỉnh Thái Bình.

4.1. Giá trị ứng dụng thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp hệ thống luận cứ khoa học sắc bén cho ngành quản lý nông nghiệp tỉnh Thái Bình. Các đề xuất cụ thể giúp các hợp tác xã nông nghiệp tháo gỡ điểm nghẽn về tổ chức và kinh doanh. Chính quyền địa phương có thêm tài liệu tham khảo đáng tin cậy để ban hành các chính sách hỗ trợ sát hợp thực tế. Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể thời kỳ hội nhập. Các giải pháp có tính khả thi cao khi nhân rộng tại cơ sở. Đây là tài liệu giá trị cho các nghiên cứu kinh tế nông nghiệp tiếp theo.

4.2. Xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại

Xu thế tương lai đòi hỏi hợp tác xã nông nghiệp Thái Bình phải chuyển dịch mạnh mẽ sang nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn. Hợp tác xã sẽ đóng vai trò trung tâm trong chuyển đổi số nông nghiệp nông thôn. Ứng dụng công nghệ Internet vạn vật và truy xuất nguồn gốc số giúp tối ưu chi phí và minh bạch thông tin. Mô hình hợp tác xã gắn với dịch vụ du lịch sinh thái nông nghiệp cũng là hướng đi triển vọng. Đây là nền tảng xây dựng nông thôn Thái Bình thịnh vượng và hiện đại. Hợp tác xã kiểu mới sẽ tiếp tục là trụ cột phát triển kinh tế địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở thái bình hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới và sự cần thiết phát triển Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 1. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 1. Khái niệm Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới * Hợp tác: Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc thực hiện kém hiệu quả so với hợp tác [7, tr. Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con người.

Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người. Do vậy, sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế. Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế.

Hợp tác lao động được thực hiện từ khi loài người xuất hiện và ngày càng phát triển. Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Do đó, nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng. Nó không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, từng địa phương, trong một nước, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế.

Hợp tác có nhiều hình thức với đặc điểm, tính chất, trình độ khác 8 nhau: hợp tác ngẫu nhiên, nhất thời; hợp tác thường xuyên, ổn định; hợp tác lao động như Mác đã phân tích về ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp; hợp tác giữa các đơn vị, các ngành v. * Kinh tế hợp tác: Kinh tế hợp tác là phạm trù hẹp của hợp tác, phản ánh một phạm vi hợp tác - hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế, hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên. Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, thì kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các chủ thể kinh tế tự chủ có điều kiện phát triển.

Như vậy, quan hệ kinh tế hợp tác phải được xây dựng trên nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tính tự chủ, độc lập của các thành viên tham gia. Hợp tác trong nông nghiệp là nhu cầu khách quan. Từ thời xa xưa, các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung, tự cấp thì quá trình hợp tác mang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau v.

nhằm đáp ứng nhu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng rẽ không có hiệu quả như: phòng chống thiên tai, thú dữ, sâu bệnh, đào kênh dẫn nước v. Đặc điểm cơ bản của hợp tác kiểu này là hợp tác theo thời vụ, việc hợp tác ngẫu nhiên, không thường xuyên, chưa tính đến 9 giá trị ngày công. Đây là các hình thức hợp tác ở trình độ thấp. Khi nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng, như dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thủy lợi v.

Trong điều kiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác. Từ đó, nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công, giá trị dịch vụ, dẫn đến hình thành hợp tác xã. Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng.

Do đó, tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn, từ kinh tế hợp tác giản đơn như các tổ, hội nghề nghiệp; các tổ, nhóm hợp tác, đến các tổ kinh tế hợp tác và hợp tác phát triển ở trình độ cao là hợp tác xã. * Hợp tác xã: Hợp tác xã là loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn. ở nhiều nước trên thế giới, HTX đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm. Trong luật HTX của nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều có các định nghĩa về HTX.

Liên minh HTX quốc tế (International Covperatise Alliance - ICA) được thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, đã định nghĩa HTX như sau: "Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ". Năm 1995, định nghĩa này được 10 hoàn thiện: "Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác" [1]. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung v.

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng như sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động v. của các mô hình HTX ở các nước trên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung sau đây: - HTX là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành. Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình). Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tương trợ, giúp đỡ cộng đồng.

Do vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX. - Nguyên tắc cơ bản của HTX là tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. ở các nước tư bản, kinh tế hợp tác mặc dù chỉ là dòng "Kinh tế phụ", nhưng nó đặc biệt quan trọng đối với nông dân. HTX giúp đỡ các trang trại, hộ nông dân tồn tại trước những tác động của kinh tế thị trường và ảnh hưởng của các tổ chức độc quyền lớn.

Do vậy, ngoài mục tiêu kinh tế, HTX còn là loại hình kinh tế mang tính chất xã hội - nhân đạo. 11 * Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới: ở nước ta, trong quá trình cải tạo kinh tế XHCN và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, phát triển. Thời kỳ 1958 - 1980, kinh tế HTX phát triển mạnh trong phạm vi cả nước và đã có nhiều đóng góp to lớn trong xây dựng nông thôn, phát triển cộng đồng, đặc biệt trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc. Song, trong một thời gian dài, do nhận thức chủ quan, nóng vội, bất chấp quy luật khách quan, chúng ta đã đồng nhất hợp tác hóa với tập thể hóa, hợp tác hóa với cải tạo XHCN; xây dựng các HTX không hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, mà thực hiện bằng các biện pháp hành chính, xem nhẹ các biện pháp kinh tế, coi thường các bước quá độ trung gian trong cải tạo XHCN.

ở thời kỳ này, vẫn có các hình thức tổ chức sản xuất ở trình độ thấp như tổ đổi công, tổ đoàn kết sản xuất, HTX bậc thấp, nhưng cũng chỉ là tạm thời, xu hướng chung là chuyển nhanh lên trình độ tập thể hóa bậc cao. Do vậy, chúng ta đã vi phạm nghiêm trọng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Các HTX càng tập thể hóa ở trình độ cao, càng hoạt động kém hiệu quả; đã đẩy kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng, trì trệ. Khi đất nước đổi mới, mở cửa, chuyển đổi cơ chế hoạt động của nền kinh tế, hàng loạt các HTX bị đổ vỡ, giải thể, đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động của HTX cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới.

Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và các biện pháp chỉ đạo hiệu quả của Chính phủ, sản xuất nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ; kinh tế tập thể trong nông nghiệp cũng xuất hiện nhiều hình thức hợp tác, liên kết mới, song chưa được định hình về tổ chức. ở một số địa phương, các HTX đã tìm tòi, thử nghiệm mô hình HTX kiểu mới cho phù hợp với thực tế kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ