Luận văn: Huy động vốn phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội hiện nay

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thực trạng và giải pháp huy động vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội

Vốn đầu tư là tiền đề vật chất quyết định sự phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội. Ngoại thành Hà Nội có lợi thế lớn về thị trường tiêu thụ và vị trí địa lý. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với sự thu hẹp diện tích đất canh tác. Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đòi hỏi phương thức canh tác phải thay đổi. Sản xuất nông nghiệp cần chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu. Nguồn vốn đóng vai trò then chốt trong việc trang bị máy móc, thiết bị hiện đại. Vốn hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Nguồn tài chính này còn thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học vào giống cây trồng, vật nuôi. Nhờ có đủ vốn, các mô hình nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp công nghệ cao được mở rộng. Vốn đầu tư tạo nền tảng vững chắc để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao. Nguồn lực tài chính dồi dào giúp bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn cho toàn bộ cư dân Thủ đô. Việc huy động vốn hiệu quả là điều kiện tiên quyết thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.

1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn nông nghiệp ngoại thành

Vốn nông nghiệp ngoại thành bao gồm toàn bộ giá trị tài sản bằng tiền và hiện vật. Nguồn vốn này phục vụ trực tiếp chu kỳ sản xuất nông nghiệp tại vùng ven đô. Đặc điểm nổi bật là nhu cầu vốn trung và dài hạn rất lớn. Nông nghiệp ngoại thành cần đầu tư công nghệ cao trên quỹ đất giới hạn. Suất đầu tư trên một đơn vị diện tích thường cao hơn các vùng thuần nông. Khả năng thu hồi vốn phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi. Thị trường tiêu thụ nội đô tạo điều kiện quay vòng vốn nhanh nếu quản lý tốt. Nguồn vốn phân bổ linh hoạt giữa các mô hình trang trại, hợp tác xã và hộ gia đình.

1.2. Vai trò của vốn trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

Vốn đầu tư là công cụ chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Nguồn vốn đầy đủ giúp giảm tỷ trọng trồng trọt truyền thống kém hiệu quả. Thay vào đó, nông dân mở rộng chăn nuôi quy mô lớn và trồng rau hoa cao cấp. Vốn kích thích hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa tập trung. Các nhà máy chế biến nông sản tại chỗ được đầu tư công nghệ hiện đại. Mối liên kết giữa nông nghiệp ngoại thành và công nghiệp chế biến đô thị trở nên chặt chẽ hơn. Nhờ dòng vốn đầu tư hợp lý, chuỗi giá trị nông sản được nâng cao rõ rệt. Nông nghiệp Thủ đô từng bước hội nhập vững chắc vào kinh tế thị trường hiện đại.

II. Thực trạng thiếu vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội

Thực trạng thiếu vốn đang cản trở sự bứt phá của nông nghiệp ngoại thành Hà Nội. Tỷ trọng đầu tư công cho khu vực nông nghiệp nông thôn còn ở mức khiêm tốn. Các ngân hàng thương mại chưa thực sự mặn mà với các dự án nông nghiệp ven đô. Rủi ro thiên tai và dịch bệnh khiến hệ thống tín dụng e dè khi cấp vốn lớn. Khả năng hấp thụ vốn của hộ nông dân và hợp tác xã vẫn còn hạn chế. Đa số các hộ sản xuất thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn theo quy định ngân hàng. Các khoản vay trung và dài hạn chiếm tỷ lệ rất thấp so với nhu cầu thực tế. Nông dân khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để mua sắm máy móc và xây dựng nhà lưới. Tình trạng này dẫn đến công nghệ sản xuất nông nghiệp lạc hậu, năng suất chưa cao. Các cơ sở chế biến nông sản hoạt động cầm chừng vì thiếu vốn lưu động và nguyên liệu. Sự thiếu hụt nguồn lực tài chính làm chậm tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp Thủ đô.

2.1. Rào cản tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của nông dân

Người nông dân ngoại thành gặp nhiều khó khăn khi vay vốn từ ngân hàng thương mại. Thủ tục thẩm định hồ sơ vay vốn còn phức tạp và kéo dài. Tài sản thế chấp là đất nông nghiệp thường được định giá thấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp tại nhiều địa phương chưa đồng bộ. Nông dân thiếu phương án sản xuất kinh doanh khả thi có xác nhận của chuyên gia. Ngân hàng áp dụng mức lãi suất thương mại chưa thực sự ưu đãi cho nông nghiệp. Thời hạn cho vay ngắn hạn không phù hợp với chu kỳ thu hồi vốn của cây lâu năm. Những rào cản này làm suy giảm dòng vốn tín dụng đổ vào khu vực ven đô.

2.2. Hạn chế trong thu hút đầu tư tư nhân và vốn FDI

Thu hút vốn đầu tư tư nhân và FDI vào nông nghiệp ngoại thành còn rất hạn chế. Môi trường đầu tư nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro thị trường và biến đổi khí hậu. Quỹ đất nông nghiệp manh mún gây trở ngại lớn cho việc tích tụ ruộng đất. Các doanh nghiệp khó tiếp cận mặt bằng sạch để xây dựng khu chế biến tập trung. Chính sách ưu đãi thuế và tiền thuê đất chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư. Hệ thống hạ tầng giao thông và logistics nông thôn thiếu tính kết nối đồng bộ. Do đó, các tập đoàn lớn ít mặn mà đầu tư vào các chuỗi nông nghiệp công nghệ cao. Dòng vốn ngoài ngân sách đổ vào khu vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

III. Giải pháp huy động vốn phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội

Huy động hiệu quả các nguồn vốn đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Thành phố cần đa dạng hóa các kênh tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn đa dạng. Ngân sách nhà nước giữ vai trò vốn mồi dẫn dắt các dòng vốn xã hội. Hà Nội cần đẩy mạnh hình thức cho vay tín dụng thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp cần mở rộng gói vay trung và dài hạn. Quy trình xét duyệt hồ sơ tín dụng cần được đơn giản hóa tối đa. Thành phố nên hỗ trợ lãi suất cho các dự án ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích mô hình liên kết hợp tác công tư (PPP) trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Thúc đẩy các hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp chế biến để chia sẻ rủi ro tài chính. Nâng cao năng lực quản lý tài chính cho các chủ hộ trang trại qua các lớp tập huấn. Việc huy động vốn đa kênh tạo động lực tài chính vững mạnh cho nông nghiệp ven đô.

3.1. Đổi mới chính sách tín dụng và bảo lãnh vay vốn

Hệ thống ngân hàng cần linh hoạt hóa điều kiện cấp tín dụng cho nông dân ngoại thành. Cơ chế cho vay tín chấp theo chuỗi liên kết sản xuất cần được nhân rộng. Ngân hàng có thể định giá tài sản trên đất như nhà kính, hệ thống tưới tự động làm tài sản bảo đảm. Thời hạn khoản vay phải khớp với chu kỳ sinh trưởng của từng loại cây trồng. Thành phố cần phát triển quỹ bảo lãnh tín dụng nông nghiệp cấp quận, huyện. Quỹ này đứng ra bảo lãnh cho các hợp tác xã và nông dân vay vốn thương mại. Lãi suất cho vay cần được bù đắp một phần từ nguồn ngân sách thành phố.

3.2. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi nông sản

Thành phố cần ban hành các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư. Các chính sách bao gồm miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất nông nghiệp. Hỗ trợ kinh phí chuyển giao công nghệ và xây dựng thương hiệu nông sản Hà Nội. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung đất đai. Khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản dài hạn với nông dân. Hình thành các cụm liên kết sản xuất, chế biến và phân phối nông sản an toàn. Khi doanh nghiệp đầu tư vốn lớn, giá trị gia tăng của nông nghiệp ngoại thành sẽ tăng vọt.

IV. Định hướng vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội

Định hướng phân bổ và sử dụng vốn hiệu quả là chìa khóa phát triển nông nghiệp bền vững. Nông nghiệp ngoại thành Hà Nội không chạy theo sản lượng mà tập trung vào chất lượng cao. Nguồn vốn cần được ưu tiên cho các mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm. Đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sau thu hoạch và hệ thống bảo quản lạnh hiện đại. Vốn đầu tư phải đi đôi với công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa thất thoát lãng phí. Chính quyền cơ sở cần định kỳ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của từng dự án. Các hộ nông dân cần nâng cao trách nhiệm hoàn trả vốn vay đúng kỳ hạn cam kết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, nhà băng, nhà doanh nghiệp và nhà nông sẽ phát huy tối đa sức mạnh dòng vốn. Quản lý vốn hiệu quả sẽ biến nông nghiệp ngoại thành thành vành đai xanh bền vững của Thủ đô.

4.1. Ứng dụng vốn vào mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái

Dòng vốn cần được tập trung phát triển các mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái thông minh. Các trang trại sinh thái kết hợp dịch vụ trải nghiệm giáo dục thu hút đông đảo du khách. Mô hình này đem lại hiệu quả kinh tế cao trên diện tích đất hẹp. Vốn đầu tư giúp lắp đặt hệ thống cảm biến môi trường và tưới tiêu tiết kiệm nước. Sản phẩm nông nghiệp tạo ra đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và an toàn tuyệt đối. Giá trị kinh tế của nông nghiệp sinh thái cao gấp nhiều lần canh tác truyền thống. Mô hình này vừa bảo vệ môi trường vừa gia tăng thu nhập cho nông dân ngoại thành.

4.2. Giám sát hiệu quả và tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn

Công tác quản lý và giám sát sử dụng vốn đòi hỏi sự minh bạch và chặt chẽ. Cơ quan quản lý cần theo dõi sát sao tiến độ giải ngân của từng dự án nông nghiệp. Việc phân bổ vốn phải gắn liền với mục tiêu tạo việc làm và nâng cao năng suất. Định kỳ đánh giá tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư của các mô hình điểm. Xử lý kịp thời các khoản nợ quá hạn nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ và dữ liệu vốn vay nông nghiệp. Tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Thủ đô.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành hà nội trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Vốn đối với quá trình phát triển nông nghiệp 1. Vốn và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm về vốn Vốn là nguồn lực quan trọng nhất đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu về vốn là rất lớn.

Tuy nhiên, do tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn quá thấp, khả năng "hút" vốn từ nước ngoài còn hạn hẹp nên lượng vốn đầu tư cho phát triển nền kinh tế còn rất thiếu. Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn dưới các giác độ khác nhau: Theo nghĩa rộng, vốn gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa vào chu chuyển, như: tiền, lao động, vật tư, tài nguyên, máy móc, thiết bị, ruộng đất; giá trị của những tài sản vô hình, như: vị trí đất đai, công nghệ, quyền phát minh, sáng chế. Trong các nền kinh tế phát triển thì tài sản vô hình ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn.

Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Đối với các nhà kinh tế, vốn là yếu tố thứ ba của sản xuất (các yếu tố khác là lao động và đất đai) được kết hợp lại để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế trước C.Mác đã nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là phạm trù kinh tế. Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển, vốn không những là yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất của các nước có nền kinh tế phát triển 5 mà còn là yếu tố khan hiếm đối với hầu hết các quốc gia đang và kém phát triển trên thế giới.

Vì vậy, phạm trù vốn luôn được các nhà kinh tế hiện đại quan tâm nghiên cứu và tiếp cận nó trên những bình diện khác nhau. Đó là: - "Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi" [62, 1126]. - "Vốn là một loại nhân tố "đầu vào" đồng thời bản thân nó lại là kết quả "đầu ra" của hoạt động kinh tế" [12, 138]. - Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một phần thu nhập chưa được tiêu dùng.

Dưới dạng vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các công trình hạ tầng, các loại nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm. Ngoài ra, còn có các loại vốn vô hình (bằng phát minh sáng chế, vị trí kinh doanh v.), không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng có giá trị kinh tế và cũng là những yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển. Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn luôn luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ. Tổng số vốn đã tích lũy được còn được gọi là tài sản quốc gia.

Tài sản quốc gia được tích lũy, có thể chia thành hai nhóm: vốn sản xuất (tài sản vật chất) và vốn phi vật chất (tài sản phi vật chất). Như vậy, vốn sản xuất vật chất là một phần của tài sản quốc gia như là kết quả của quá trình tích lũy và được trực tiếp sử dụng trong quá trình sản xuất hiện tại. Tài nguyên thiên nhiên, như: đất đai, hầm mỏ. không được tạo ra từ các hoạt động đầu tư.

Các khoản đầu tư dưới dạng thiết bị, máy móc, nhà xưởng, vật kiến trúc hay một số vật liệu khác cần cho quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên thì được xếp vào vốn sản xuất. Ngoài ra, bộ phận tài sản quốc gia phi sản xuất là các công sản quốc gia cũng hết sức quan trọng. Các tài sản vật chất trong quá trình sử dụng hao mòn theo thời gian và do nhu cầu sử dụng các tài sản vật chất ngày càng tăng cho nên phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn và tăng thêm khối lượng các tài sản vật chất mới và tăng thêm hàng hóa tồn kho [12, 138-139]. 6 - "Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra.

Vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất, và bao gồm máy móc, nhà máy và nhà cửa là cái làm cho sản xuất trở thành hiện thực nhưng trừ nguyên liệu thô và có thể được coi như là giữ giá trị được tích trữ của những cái này" [7, 56]. Từ những cách tiếp cận trên về vốn, có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, vốn là một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Nó góp phần tạo ra thu nhập, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thứ hai, vốn không chỉ là lượng tiền mặt nhất định trực tiếp đầu tư sinh lợi nhuận mà còn là đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hữu hình và vô hình tham gia vào các quá trình sản xuất - kinh doanh.

Thứ ba, vốn được biểu hiện bằng tiền. Song, không phải tất cả tiền đều là vốn. Tiền là hình thái biểu hiện của vốn. Trường hợp tiền để tiêu dùng hàng ngày, tiền để cất trữ không được coi là vốn.

Đó là các khoản để chi tiêu và tiền tiết kiệm để giành, là các khoản tiền không sinh lời, không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Chỉ có những đồng tiền được đảm bảo bằng tài sản thật, đưa vào đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lời mới là vốn. Trong nền kinh tế thị trường, cách vận động và phương thức vận động của tiền do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định. Trên thực tế, sự vận động của vốn có ba hình thức: TLSX +T-H.

H’ - T’: là hình thức vận động SLĐ của vốn đầu tư trong các doanh nghiệp sản xuất. Đây cũng chính là mô hình tái sản xuất nói chung. + T - H - T’: là hình thức vận động của vốn đầu tư trong các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ. + T - T’: là hình thức vận động của vốn đầu tư thuộc các tổ chức tài chính trung gian mua trái phiếu, cổ phiếu công ty, đầu tư góp vốn liên doanh.

7 Trong cơ chế thị trường, đối với một quốc gia, từng doanh nghiệp có thể sử dụng cùng một lúc ba phương thức đầu tư vốn theo mô hình trên nhằm mục tiêu có mức doanh lợi cao và nằm trong khuôn khổ pháp luật. Vốn biểu hiện bằng tiền là nguồn vốn linh hoạt nhất nhưng phải là tiền vận động đi vào sản xuất một cách hiệu quả. Thị trường không những là nơi diễn ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời của chúng. Khả năng sinh lời của vốn vừa là mục đích cuối cùng của việc đầu tư kinh doanh đồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với qui mô ngày càng mở rộng ở chu kỳ sau.

Sự vận động của vốn trong thị trường tuân theo qui luật khách quan của kinh tế thị trường. Song, con người có thể nắm bắt và lợi dụng chúng để tạo ra những kênh huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu mục đích sản xuất, kinh doanh của mình. Trong giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập dưới góc độ huy động vốn trong nước (vốn bằng tiền) để phát triển nông nghiệp. Cụ thể: Một là, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các yếu tố cần thiết để cấu thành quá trình sản xuất, được hình thành nên từ nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một quốc gia [29, 17].

Hay, nói cụ thể hơn, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các yếu tố cần thiết cấu thành quá trình sản xuất, bao gồm: tiền mặt, nhà xưởng máy móc thiết bị, vật kiến trúc, nguyên liệu, đất đai, lao động, kinh nghiệm quản lý, chữ tín của khách hàng đối với sản phẩm, bí quyết công nghệ, vị trí kinh doanh, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm,. Được hình thành nên từ các nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một quốc gia. Như vậy, các nhân tố cấu thành vốn trong nước là rất đa dạng: vốn bằng tiền, các dạng của cải, vốn con người, vốn tài sản,. Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa, các loại vốn trên có thể thâm nhập vào nhau, chuyển hóa cho nhau và dĩ nhiên, chúng sẽ trở thành tiền mặt trong những điều kiện cụ thể.

Vì vậy, cần có cách nhìn biện chứng, linh hoạt về các nguồn vốn. Từ 8 đó mà có biện pháp khai thác, huy động nguồn vốn còn tiềm ẩn trong nền kinh tế vào phát triển kinh tế. Nhất là, khi có một nguồn vốn nhất định đủ sức tiến hành sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hóa thì điều quan trọng là phải tìm cách cấu trúc tối ưu các yếu tố, quản lý có hiệu quả chúng để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Hai là, vốn bằng tiền (tiềm lực về tài chính) đầu tư vào phát triển nông nghiệp.

Nói cụ thể, vốn đầu tư trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Vốn là yếu tố không thể thiếu đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp hay trên phạm vi từng quốc gia cần phải có các khoản tiền ứng ra để đầu tư ban đầu và đầu tư vào sản xuất trong giai đoạn đưa công trình vào hoạt động. Xã hội càng phát triển, những chi phí cho các khoản "đầu vào" càng lớn.

Bởi lẽ, những tư liệu lao động và đối tượng lao động do con người tạo ra có quy mô ngày càng lớn, phong phú về kết cấu, đa dạng về chủng loại và hàm chứa một trình độ khoa học - công nghệ ngày càng cao. Chúng trở thành những tài sản (vốn) rất có giá trị. Dựa theo những tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia vốn thành các loại khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ