Chương I: Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Chương II: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới. Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài 1. Khái niệm nuôi con nuôi 1. Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một quan hệ xã hội Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người, thể hiện mối quan hệ gắn bó của con người với nhau trên cơ sở những lợi ích chung. Với tư cách là một quan hệ xã hội, nuôi con nuôi được E.
Weinstein định nghĩa trong từ điển bách khoa toàn thư về các môn khoa học xã hội như sau: “Theo nghĩa rộng và không mang tính pháp lý thì nuôi con nuôi được định nghĩa như là một thực tiễn xã hội được thể chế hoá, theo đó một cá nhân thuộc về một gia đình hoặc một nhóm mang tính chất gia đình do sinh ra tiếp nhận những liên hệ mới mang tính chất gia đình và những liên hệ mới này được xã hội coi như ngang bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thế một phần hoặc toàn bộ những mối liên hệ đó” (Theo E. Weinstein, “Adoption”, in International Encyclopedia of the Social Sciences, New York, 1968, p.17-18] Dưới góc độ xã hội thì nuôi con nuôi được hiểu là một quan hệ xã hội được thiết lập giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuội nhằm hình thành quan hệ cha mẹ và con trong thực thế với những mối liên hệ gia đình 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mới, để thoả mãn những nhu cầu tinh thần hoặc lợi ích vật chất nhất định của các bên. Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu là sự xác lập về mặt pháp lý quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi mà giữa hai bên không có mối quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có văn bản pháp lý nào, kể cả Công ước Lahay 1993 cũng như các điều ước quốc tế đa phương hay song phương đưa ra khái niệm hoàn chỉnh mang tính pháp lý về nuôi con nuôi.
Quan điểm của các nước về bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi có sự khác nhau. Một số nước như Thuỵ Điển, Pháp, Đức… cho rằng việc nuôi con nuôi thể hiện ý chí đơn phương. Ý chí đó chỉ có hiệu lực khi được những người có liên quan (cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc chính bản thân đứa trẻ) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) đồng ý. Do vậy, việc nuôi con nuôi được coi là hành vi pháp lý đơn phương.
Quan điểm khác lại cho rằng việc nuôi con nuôi là một hợp đồng song vụ giữa người nhận con nuôi và người cho con nuôi (cha mẹ đẻ, người giám hộ, cơ sở nuôi dưỡng…) và có sự đồng ý của những người liên quan. Quan điểm này được thể hiện trong pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc, Hàn Quốc… Theo đó, việc nhận con nuôi không cần phải qua thủ tục công nhận tại Toà án mà chỉ cần các bên thoả thuận phù hợp với yêu cầu pháp luật. Quan điểm của Việt Nam tuy chưa thật sự rõ nét nhưng cũng đã được thể hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ 2000), theo đó dưới góc độ pháp lý, việc nuôi con nuôi không thể là một hợp đồng dân sự giữa người nhận nuôi và người cho con nuôi. Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2000 quy 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định “sự đồng ý” mà không phải sự thoả thuận của các bên.
Đây là sự khác biệt quan trọng so với quy định phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Điều này cho thấy sự ghi nhận bản chất của việc nuôi con nuôi không phải là một hợp đồng. Dù quan điểm khác nhau thì tựu chung lại có thể thấy về bản chất pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Như vậy, với tư cách là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo các điều kiện do pháp luật quy định, mà không liên quan đến quan hệ huyết thống giữa hai bên.
Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một quan hệ pháp luật Với tư cách là một quan hệ pháp luật, quan hệ nuôi con nuôi có thể được hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật hoặc là nhóm các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Theo nghĩa là một loại quan hệ pháp luật, nuôi con nuôi có các yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung. Chủ thể của quan hệ nuôi con nuôi bao gồm: người cho con làm con nuôi (cha mẹ đẻ, người giám hộ), người nhận nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi. Những lợi ích về vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thể hướng tới chình là khách thể của quan hệ này.
Nội dung của quan hệ nuôi con nuôi là những quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng của các chủ thể trên cơ sở phát sinh quan hệ cha mẹ và con hợp pháp giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hệ pháp luật nuôi con nuôi còn được hiểu theo nghĩa là nhóm các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Các quan hệ pháp luật này có thể là các loại quan hệ pháp luật khác nhau, như: quan hệ pháp luật hành chính trong đăng kí việc nuôi con nuôi; quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình trong việc điều chỉnh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi; quan hệ pháp luật tố tụng trong giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi… Tập hợp tất cả các quan hệ pháp luật này thể hiện sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một chế định pháp lý Trong việc nuôi con nuôi, yếu tố quyết định đến hiệu lực pháp lý của việc nuôi con nuôi là sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là sự thể hiện ý chí của nhà nước, chứ không phải là ý chí đơn phương của các chủ thể.
Ý chí của nhà nước được thể hiện qua hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi. Do đó còn có thể hiểu khái niệm nuôi con nuôi với tư cách là một chế định pháp lý. Chế định nuôi con nuôi là tổng hợp các quy phạm pháp luật, do nhà nước ban hành, điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liên quan trong việc cho nhận con nuôi, trên cơ sở hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi. Khái niệm nuôi con nuôi đã được quy định một cách rõ ràng tại Điều 67 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”.
Luật Nuôi con nuôi năm 2010 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã thừa kế khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi con nuôi. Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 xác định: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế. Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha, mẹ và con bằng con đường huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình “huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ thì quan hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lí.
Một quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng lúc của hai loại chủ thể hưởng quyền, có khả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, đó là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha, mẹ nuôi) và “chủ thể được nhận làm con nuôi” (con nuôi). Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Theo đó, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở đó, Điều 28 Lụât Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ các trường hợp được coi là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm: - Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.