CHƯƠNG 1 CƠ SỞ T.Ý TUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SÓNG VĂN HOÁ TRONG CÔNG NHÂN 1.1- Nhãng khải niệm cơ bản.1,1-Khái niệm đời sông văn hỏa cơ sẽ * Khải niệm doi sing van hod hi nói đến đời sống van hoa ngutn ta thedng nhan mạnh đến một lĩnh vực đặc thủ của đời sống xã hội và quá trình sẵn xuất vả tái sản xuất ra cáo giá trị văn hóa, cũng như sự tổng hỏa các hoạt động tình thần của xã hội như hoạt động tư tưởng, khoa học, giảo đục, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng. Nhữ vậy đời sống vău hóa không chi bo hep trong những hoạt động thường nhật mang tỉnh chủ quan của con người mà bao trùm toàn bộ phương thức sinh hoạt văn hỏa của đời sống tình thần xã hội. Xây dựng đời sống văn hóa là tiển hành củng cổ và phát huy những thành tựu van hộa hiện lại, nầng cao những giá trị văn hóa truyền thống, để từ đỏ xôy dựng một đời sóng tiên bộ theo định hướng XHƠN mà vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Thư vậy theo cách tiếp cận của Giáo Sư Tloang Vinh chung ta cd thé biển “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống, xã hội là phức thể những hoạt động sông của con người nhằm đáp ứng nhu. cầu vật chất và nhu cầu tình thần" [54, tr.
Nhu câu vật chất được đáp ứng làm cho cơn người tổn tại như một sinh thể, còn rửu câu tỉnh thân thì giứp che cơn người tổn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hoá. Hai nhu câu cơ ban nay xuất hiện ngay từ khi con người hình thành về mặt giống loài, tức là từ buổi bình mình của xã lội loài người. Tuy vậy khi xã hội phát triển lèn mức cao, đạt tới trinh độ khác nhau của nên văn minh, thì sự đáp ứng nhu cầu cũng đẹt tới trình độ phát triển tương ứng. Từ hải nhu cầu eơ bản nêu trên hình thành nhu cầu văn hoá, thể hiện khía cạnh chất lượng của trình dé dap ứng nhủ cầu.
Nhu cấu văn hoá là biểu hiển nhủ cầu tinh than, nhưng nó không đồng nhất với nhu cầu tỉnh thân. Như vậy, chí có bộ phận nhu cầu tính thân hướng tới các giả trị cao cả, và sự đáp ứng các như cầu này góp phần phát triển con người theo hưởng nhân bản hoá thì mới xem là nhu cầu văn hoa. Nhụ câu văn hoá không phải là gái nhất thành bất. biển mẻ nó có tỉnh chất năng động và phải triển.
Vi thế, sự đáp ung nhu cầu cũng phải ning động và thường xuyên đổi mới chất lượng. Các hoạt động nhằm vào sự đập ứng như cầu văn hoá của con người thì gọi là hoạt động văn hoá. Đời sống văn hóa là bộ phậu đặc biệt bao trùm tuợi lĩnh vực của đời song con ngitn, bir vide sẵn xual ra của cái vậi. chất và tĩnh thân đến việc giữ gìn, trao đổi và tiêu dứng những sản phẩm đó.
Từ hoạt động sang tao nhằm tạo ra các giá trị tỉnh thân đến việc hưởng thụ các giá trị tỉnh thần Từ cảnh quan, môi trường xưng quanh mả ở đỏ cơn người hoạt động văn hóa, lao động sảng lạo với ruợi muối quan hệ xã lội phức lạp và tỉnh tế Không những thể, đời sống văn hỏa cũng chính là đời sống con người cho nên đời sống văn hóa được biểu hiện ra muôn hình, muôn vẻ trong sinh hoạt văn hóa trong lao động, trong ứng xử và trong giao tiếp, trong việc tạo dựng môi trường văn hỏa xã hội lành mạnh và trong cải thiên đời sống vật chất, tình thần của người * Khái niêm cơ sỡ Cơ sở đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong sinh hoạt vật chất và tỉnh thản, điển ra trong đời sống hàng ngày. Theo tính than Hội nghi lần thứ năm Ban Chấp bành Trung ương khoá VTTT thì đơn vị cơ sở là “nà ruáy, công lrường, lôm trường, đơn vị lực lượng vi trang, công, an nhân dân, cơ quan, tường học, bệnh viện, cửa hàng, hợp tác xã, làng xã, phường 4p. Như vậy, đơn vị cơ sỡ là những công đẳng người cò địa bản sinh sắng ẩn định và có tổ chức hành chính, kinh tế —xã hột 10 Như vậy, đời sống vấn hỏa cơ sẽ bao gồm toan bộ những hoạt đồng của cơn người nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, tình thần đề duy trí cuộc sống trong hoàn cánh điều kiện nhất định của một cơ sở hay một địa bản. dân cư nhất định Bản thân khái riệm đời sông văn hóa đã hảm chứa nội đụng rất phong phú, trên thực tế xây dựng đời sông văn hóa ở cơ sở lại cảng đa dạng, phong phủ hơn.
Bởi vì, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở lá góp phan x4y dung con người đủ trí lực, thể lực, năng lực thim my va kha ning thích ứng trong thời kỳ mới góp phần thực hiển mục tiêu: “Tiên giảu, trước 1uanh, xã hội công bằng, dan chủ, văn mình” 1.2-Khái niệm giai cấp công nhân: - C. Mac va Ph Angghien đối dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chủ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động lần thuế ở thế kỹ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp cổng nhân hiện đại công nghiệp. như những cụm tử đồng nghĩa để biểu thị một khải niệm giai cấp công nhân - con đề của ngành đại công nghiệp Từ bân Chủ nghĩa, giai cắp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại. Tủ khải niệm giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau như thế nảo đi nữa thì theo C.
Mac - và Angghen vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ Iran: Sughé ngliép: Ghai cip công nhận là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sán xuất có tỉnh chất công, nghiệp ngày cảng hiện đại và xã hội hỏa cao. Mac và Anpghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn va tiéu vong củng với sự phát triển đại công nghiệp, còn giai cấp vô sẵn lại là sâm phẩm cúa bản thân đại công nghiệp”. - Về vị trí trong quan hệ sản xuất: 1 Dưới chế độ Tư bản chủ nghĩa họ là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nha tư bản và bị nhà tư bán bóc lột về giá trị thàng du. Căn cử hai tiêu chỉ cơ bản của giai cấp công nhân như đã trình bảy ở trên, phủng la có thể cơi những người lao động trong cáo ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là công nhân.
Còn những người làm ông ăn lương phục vu trong các ngành khác như v tễ, giáo đục, văn hóa (không liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp.) là những người lao động nói chúng, đang được thụ bài vào tổ chức công đoàn, nhưng không phải là ông nhân. Sau khí cách mạng vô sản thành công, giai cắp công nhân trở thành giai cấp cảm quyên, không còn ở địa vị giai cấp bị bóc lột nữa, mà đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp lánh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội củ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho loàn thể nhân dâu lao động làm chủ những tư liệu sẵn xuất cơ bản đã được công hữu hỏa. Trong thời kỷ quá độ lên chú nghĩa xã hội, giai cắp công nhân có đặc trưng chủ yếu theo tiêu chí thứ nhật, Còn vẻ tiêu chí thử hai, nêu xét toàn bộ giai cáp, thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ, nhưng trong, điều kiện tổn tại nhiều thành phân. kinh 66, thủ còn có một bộ phận công nhậu làm thuê trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Những người nảy về danh nghĩa tham gia làm chủ cửng toàn bộ giai cấp công nhân và nhằn dân lao động, nhưng xét về mặt cá nhân họ vẫn là những người làm công ăn lương và với những mức độ nhất định, lọ vẫn bị những chủ sở hữu tự nhân bóc lôi về giá tr hàng dư Những quan điểm của G.Mae và Angghen về hai liêu chỉ cơ bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn giữ nguyễn giá trị, vẫn là cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cửu giai cấp công nhân hiện đại. cứ hai tiêu chỉ cơ bản nói trên, chúng ta cỏ thể định nghĩa: Giai cấp công xiên là một lập đoàn xã hội ôn định hình thành và phái triển cứng với quá trình phát triển gửa nền dông nghiệp hiện đạt, với nhịp độ phát triển cỗn lực 12 lượng sản xuất có tình chất xã hội hóa ngày cảng cao, là lực lượng cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trinh sản xuất, tái sản xuất ra cúa cải vật chất và cái tạo các quan hệ xã hội, đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiền tiến trong thời hiện đại. Ở các nước tư bản, giai cắp công nhận là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu săn xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thẳng dư. Ở các nước xã hội chú nghĩa, giai cập công nhân là những người công nhân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu, là giai cấp lãnh đạo xã hội trong quả trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã bội chủ nghĩa.3- Khải niệm doanh nghiệp Nhà nước Theo Đại Từ điển tiếng Việt, doanh nghiệp được xác định lá “Tổ chức hoạt động khit doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân nhằm mục đích kiểm lời ở một hoặc nhiều ngành”.
Dưới gỏc độ kính tế, doanh nghiệp được xác định là một tổ chức kinh tế, được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh đoanh, thực hiện các chức năng sân xuất, mua ban hàng hóa hoặc làm dich vụ nhằm thỏa mãn nhu câu con người và xã hội, và thông qua hoạt động hữu Ích đỏ mả kiếm lời. Dựa trên các quy định như Luật doanh nghiệp quốc doanh, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật hợp tác xã, các nhà kính tế định nghĩa về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là một đơm vị kinh tế đo quốc doanh hoặc các đoàn thể hoặc tư nhân đầu tư vốn nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sân xuất kinh doan hoặc hoại động công ich gop phân thực hiện các mục tiêu kinhiế xã hội của đất nước” hư vậy, doanh nghiệp được xác định là một đơn vị kinh tế, tổ chức kinh tế cỏ tư cách pháp nhân và cỏ mục địch hoạt động rõ ràng.