CHƯƠNG I. BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN TẾ, VĂN TẾ NÔM 1. Bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX 1. Bối cảnh lịch sử quốc tế Từ những năm 60 của thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp đã làm cho sản xuất phát triển nhanh chóng, của cải ngày càng dồi dào.
Công nghiệp hóa diễn ra đầu tiên ở Anh, sau đó nhanh chóng phát triển ở nhiều nước châu Âu. Cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt của các nước tư bản: nhờ phát minh máy móc, nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều thành phố mọc lên, thu hút dòng người từ nông thôn đến tìm việc làm, hàng hóa ngày càng nhiều, vv… Bên cạnh những mặt tính cực mà cuộc cách mạng công nghiệp đem lại cho châu Âu nói riêng, thế giới nói chung, nó đã tạo ra những hậu quả lớn. Về mặt xã hội, là sự hình thành mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; về mặt chính trị, xã hội tư bản đã hình thành Chủ nghĩa đế quốc thực dân. Trong thời kì cách mạng công nghiệp, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha… phát triển nhanh chóng làm tăng nhu cầu tranh giành thị trường, đẩy mạnh việc xâm lược các nước trên thế giới nhằm vơ vét, bóc lột sức người sức của của các nước thuộc địa, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp ở chính quốc.
Đông Nam Á nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, tiếp giáp với Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có một vị trí chiến lược quan trọng và giàu tài nguyên, nên sớm bị tư bản phương Tây nhòm ngó. Năm 1824, Anh bắt đầu xâm lược Miến Điện; đến cuối thế kỷ XIX, hoàn thành công cuộc chinh phục nước này. Năm 1858, các nước Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào lần lượt bị Pháp đô hộ, Xiêm trở thành nơi tranh chấp thế lực giữa Anh và Pháp. Châu Phi vào nửa đầu thế kỷ XIX còn là một lục địa bí hiểm đối với các nước download by : skknchat@gmail.com 13 tư bản phương Tây, các nước này mới đặt được một số căn cứ thương mại ở ven biển.
Đến nửa sau thế kỷ XIX, thực dân phương Tây mới tìm cách đi sâu vào đất liền. Kết quả là, hầu hết các nước châu Á, châu Phi lần lượt trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của thực dân phương Tây. Bối cảnh lịch sử trong nước Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng được xúc tiến một cách mạnh mẽ. Đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX, chúng liên tiếp “tạo cớ” để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam: phản đối triều đình nhà Nguyễn ngăn cản “truyền bá văn minh công giáo”, không tiếp nhận quốc thư của Pháp, “làm nhục quốc kì” Pháp…Đến chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp cùng liên quân Tây Ban Nha đã bất ngờ nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, sau đó chúng lần lượt tấn công 3 tỉnh miền Đông, 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Chiến tranh ngày càng lan rộng ra miền Trung, miền Bắc. Đến khoảng năm 1884, về cơ bản, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức thừa nhận Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp. Tư bản Pháp lăm le nổ súng xâm lược đúng vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỷ XVIII.
Song, để duy trì chế độ phong kiến của mình nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách. Đối nội, chúng ra sức đàn áp khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu. Đối ngoại, chúng ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì chúng thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo, giết download by : skknchat@gmail.
Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài – nhất là tư bản Pháp – phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh được nạn lớn. Trái lại, càng đóng chặt cửa và càng cấm đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lí do cho thực dân Pháp nổ súng xâm lược sớm hơn mà thôi. Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp – Tây đã kéo tới dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng (Quảng Nam). Mờ sáng hôm sau (ngày 1-9-1858), chúng đã cho người đưa tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng phải trả lời ngay trong vòng hai giờ.
Không đợi hết hạn, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt trong ngày hôm đó. Tiếp sau, chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Ngày 9-2-1859, hạm đội Pháp tập trung đầy đủ ở Vũng Tàu. Sáng hôm sau (mồng 10 tháng 2), chúng bắt đầu công phá các pháo đài Phúc Thắng, Lương Thiện, Phúc Mĩ, Danh Nghĩa thuộc các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, có nhiệm vụ bảo vệ đường thủy vào Gia Định.
Sau đó, tàu chiến giặc ngược sông Cần Giờ, vừa tiến vừa bắn phá các đồn hai bên bờ. Trong khi triều đình hoang mang dao động thì nhân dân cả nước đã ngay từ đầu sôi nổi chống giặc. Điển hình có các cuộc nổi dậy của Trương Định ở Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An từ năm 1860 đến năm 1864; kế đó là Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười từ năm 1865 đến năm 1866; Nguyễn Trung Trực ở Tân An và Rạch Giá từ năm 1861 đến năm 1868. Ngoài ra, rất nhiều văn thân khác cũng tự động mộ quân chống Pháp, phối hợp tác chiến với nghĩa quân Trương Định.
Ngoài Bắc có Hoàng Tá Viêm đóng quân ở Sơn Tây, củng cố lưc lượng đánh Pháp. Nhân dân Hà Nội, Sơn Tây cũng nhất tề hưởng ứng nên địch rất lo sợ. Hưởng ứng “chiếu Cần Vương” do Tôn Thất Thuyết khởi xướng, nhân dân ta ở khắp nơi, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã sôi nổi đứng lên chống Pháp. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: ở Bình Định có khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng; ở Quảng Bình có khởi nghĩa của Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân; ở Hải Dương download by : skknchat@gmail.com 15 có khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật; ở Bắc Giang có khởi nghĩa Yên Thế; ở Hưng Yên có khởi nghĩa Bãi Sậy; ở Thanh Hóa có khởi nghĩa Ba Đình,… Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế về tư tưởng và tổ chức nên các cuộc khởi nghĩa trên đã lần lượt bị thất bại, song các phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân khắp cả nước giữ một vị trí, ý nghĩa quan trọng trong phong trào chống thực dân Pháp xâm lược nửa cuối thế kỉ XIX của nhân dân ta.
Tóm lại, bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước nửa cuối thế kỷ XIX đã ảnh hưởng lớn tới đất nước và con người Việt Nam. Từ 31-8-1858, thực dân Pháp đã xâm lược Việt Nam, biến nước ta từ một nước độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, từ một nước hòa bình trở thành một nước chìm trong máu lửa chiến tranh, nhân dân ngày càng đói khổ lầm than, một cổ hai tròng (thực dân Pháp và phong kiến tay sai). Đứng trước nỗi thống khổ ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp đã nổi dậy khắp cả nước, nhất thời đã làm cho kẻ thù phải run sợ. Song, trong hoàn cảnh đó, kẻ thù được trang bị vũ khí hiện đại, khoa học kĩ thuật tiên tiến nên đã nhanh chóng dập tắt, nhấn chìm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong biển máu.
Trong hoàn cảnh thẫm đẫm nước mắt ấy, các bài văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX đã ra đời. Những vấn đề chung về Văn tế 1. Định nghĩa về văn tế Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về Văn tế, song xung quanh những định nghĩa này vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất của các nhà nghiên cứu văn tế. Chúng ta đã có một số định nghĩa tiêu biểu sau: Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm định nghĩa “Văn tế (chữ nho là tế văn) là một bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết, công đức của người ấy và tỏ lòng kính trọng thương tiếc của mình” [15; 131].
Khái niệm này ngắn gọn, đúng đắn, song chưa bao quát được toàn bộ mục download by : skknchat@gmail.com 16 đích, đối tượng, nội dung, nghệ thuật của văn tế. Trong Văn tế cổ và kim do Phong Châu và Nguyễn Văn Phú sưu tầm, chú thích và giới thiệu có đưa ra khái niệm về văn tế rộng hơn, đầy đủ hơn khái niệm của Dương Quảng Hàm: Là “một loại văn trước kia chủ yếu dùng vào việc hiếu để tỏ lòng thương tiếc hoặc ngợi ca công đức người đã chết (…) Nghệ thuật văn tế mang rất nhiều dân tộc tính và về mặt hình thức cũng có những nét riêng không đến nỗi quá gò bó như phú. Do đó khả năng miêu tả, biểu hiện tình cảm cũng có phần nào được khoáng đạt hơn” [5; 3,4]. Trong Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Văn Đức, có viết: “Theo sách Thọ Mai, thì “Văn tế” có một ý nghĩa rất rộng, bao gồm nhiều loại văn dùng để tế thần, tế thánh, tế ma và cả loại văn dùng để chúc mừng như chúc thọ, chúc việc thăng quan tiến chức… Dần dần, từ “văn tế” dùng theo nghĩa hẹp, nghĩa là văn tế ma có mục đích kể tính nết, công đức người chết và lòng thương mến của người sống đối với người chết đó”[28; 332].
Trên cơ sở những nhận định nêu trên, chúng tôi xin được đưa ra nhận định về văn tế như sau: Văn tế là loại văn có nguồn gốc từ Trung Quốc, khi ra đời được dùng vào việc tế lễ trời đất, thánh thần. Càng về sau, văn tế được dùng vào nhiều mục đích, và cách diễn tả cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn.