Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ TÔN GIÁO 1. Cơ sở lý luận về chính sách tôn giáo 1. Về khái niệm tôn giáo “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (tiếng Anh) và “religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng La tinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục. Thuật ngữ “religion” được dịch thành “tông giáo” lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản sau đó du nhập vào Trung Hoa.
Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ “tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa khác, nó nhằm chỉ đạo Phật. Thuật ngữ “tông giáo” được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “tôn giáo” [61, tr. Cho đến nay, khái niệm tôn giáo vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu. Với mỗi cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm khác nhau về tôn giáo.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần; tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [11, tr.Ăngghen thì cho rằng “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày”.Lênin, khi nói về tôn giáo, đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [62, tr.
Trong cách tiếp cận của trường phái Mác xít như thế, tôn giáo được nhìn theo chiều hướng thiếu tích cực, cơ bản là một trong những lực lượng gây cản trở sự tiến bộ của xã hội. Trong các tiếp cận gần đây ở Việt Nam, tôn giáo được nhìn có sự khách quan hơn. Điều này có thể thấy ở quan điểm mang tính đột phá về nhận thức luận về tôn giáo trong Nghị quyết Trung ương số 25 về Công tác tôn giáo, được Ban Chấp hành Trung ương (BCH TW) Đảng thông qua năm 2003. Những quan điểm chính từ 15 chính sách này phản ánh vào trong cách tôn giáo được định nghĩa, từ Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo (2004) cho đến Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Luật này định nghĩa tôn giáo là: “Niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn giáo, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Cách định nghĩa này thể hiện sự trung tính, khách quan hơn về tôn giáo. Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm tôn giáo được đưa ra dưới hai góc độ khác nhau. Dưới góc độ Tôn giáo học và góc độ khoa học về QLNN lại có đưa ra những định nghĩa khác nhau.
Tuy mỗi định nghĩa có những cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản thì cũng có những điểm chung: Thứ nhất, tôn giáo đã tồn tại trong xã hội loài người từ rất lâu đời và còn tiếp tục tồn tại trong xã hội ngày nay. Thứ hai, tôn giáo là một hiện tượng xã hội. Trong tài liệu: “Tìm hiểu một số khái niệm của Đại hội IX” đã xác định tôn giáo là một thực thể xã hội có những đặc trưng sau: Niềm tin bất tử vào đấng siêu nhiên, đấng tôn thờ. Đây là yếu tố căn bản nhất.
Mỗi tôn giáo thường có một hoặc một số đấng tôn thờ, có thể là Trời, Phật, Thánh, Thần hay một số sức mạnh huyền bí, vô hình, hư ảo nào đó. Hệ thống giáo lý: là hệ thống lý thuyết về một tôn giáo. Giáo luật: là những quy định, chế định của tôn giáo mà bắt buộc chức sắc, tín đồ của tôn giáo đó phải tuân theo. Giáo lễ: là hệ thống lễ nghi của tôn giáo đó, biểu hiện bằng hệ thống hành vi hay nghi thức của tôn giáo đó.
Tổ chức nhân sự, quản lý, điều hành việc đạo (giáo hội); Cơ sở thờ tự: các tôn giáo đều có các cơ sở thờ tự (như chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất…), là nơi thờ phụng các đấng tối cao, đấng siêu nhiên và là nơi thường xuyên diễn ra các nghi thức, nghi lễ tôn giáo. Tín đồ tôn giáo: là những người tin, theo một tôn giáo nào đó và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận. Như vậy khi nói đến tôn giáo nước ta vẫn hiểu theo định nghĩa: Tôn giáo là một cộng đồng người có chung niềm tin vào các thế lực siêu nhiên huyền bí, có hệ thống giáo lý, giáo lễ, giáo luật, tổ chức và cơ sở thờ tự hợp pháp. Đây là quan điểm mà đề tài sẽ đi theo trong quá trình nhận diện và phân tích.
Trong đề tài này, các tôn giáo cụ thể được xem xét trong địa bàn An Giang là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, PGHH, Hồi giáo, Bửu sơn Kỳ hương, Tứ Ân Hiếu nghĩa, Tịnh độ Cư sĩ, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn. Chính sách công, chính sách tôn giáo, thực hiện chính sách tôn giáo 16 Khái niệm “chính sách công” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dù rằng, trong điều hành và QLNN, cũng như lĩnh vực hoạt động của luật pháp, khái niệm chính sách công thường xuyên được dùng, nhưng không phải lúc nào khái niệm này cũng được hiểu một cách nhất quán. Ngoài khác biệt trong cấp độ phân tích khái niệm, đặc biệt là dưới góc độ lịch sử- xã hội- mang tính giản lược hay thấu đáo - chính sách công còn thể hiện sự khác biệt trong cách hiểu giữa các ngành lĩnh vực và vấn đề mà chủ thể nhận thức quan tâm.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công, song điều đó không có nghĩa là chính sách công mang những bản chất khác nhau. Thực ra, theo quan niệm của mỗi tác giả, chủ thể của mỗi ngành lĩnh vực mà các định nghĩa đưa ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công. Những đặc trưng này phản ánh chính sách công từ các gốc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công. Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,. Định nghĩa này không làm rõ được thực chất của chính sách, chỉ đưa ra một cách hiểu rất chung là những chuẩn tắc để thực hiện đường lối, nhiệm vụ (đường lối, nhiệm vụ nào, của ai?) trong một thời gian nhất định và trên những lĩnh vực cụ thể. Định nghĩa như vậy không chỉ nói về chính sách, mà có thể hiểu là bất kỳ một kế hoạch, một hoạt động nào đó.
Tác giả Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đã tổng kết về khái niệm “chính sách công” như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước. Nếu chủ thể ban hành các “chính sách tư” có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt động trong phạm vi nội bộ tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó, chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, vấn đề ở đây là các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công, vừa là chủ thể ban hành “chính sách tư”. Sự khác biệt là ở chỗ các “chính sách tư” do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách chỉ nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên 17 ngoài phạm vi cơ quan. Chính sách công do Nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách công là chính sách của Nhà nước.
Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp. Theo cách phân tích này, ở Việt Nam, Đảng cũng là chủ thể ban hành chính sách công. Điều này có thể giải thích bằng thực tế đặc thù của nước ta. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội (Điều 4 Hiến pháp).
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công. Như vậy, về thực chất, các chính sách công là do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là Chính phủ đề ra). Các chính sách này là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta. Như vậy mục tiêu đã được Đảng định hướng, chính sách công có vai trò hiện thực hóa các ý tưởng, mục tiêu tổng thể của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, các quyết định chính sách như thế là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên. Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó. Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách.
Chính sách công phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế. Nhiều người thường hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ trương của Nhà nước ban hành. Hiểu như thế dù đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được nhưng kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu.
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.