Luận văn: Mô hình truyền thông BĐKH cho Hội Phụ nữ xã Tu Lý - Nguyễn Quốc Đạt

Luận văn nghiên cứu mô hình truyền thông biến đổi khí hậu lồng ghép vào hoạt động Hội phụ nữ. Góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng tại Đà Bắc, Hòa Bình.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2016

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luận văn Truyền thông BĐKH cho Hội phụ nữ xã Tu Lý

Luận văn Thạc sĩ Biến đổi khí hậu của Nguyễn Quốc Đạt tập trung vào xây dựng mô hình truyền thông biến đổi khí hậu lồng ghép vào các hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Nghiên cứu này được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ. Mục tiêu chính là phát triển một mô hình truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức của phụ nữ về biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng. Luận văn được tài trợ bởi Quỹ học bổng Sasakawa – Nhật Bản, thể hiện tầm quan trọng của vấn đề trong bối cảnh phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa và khái niệm cơ bản về Truyền thông BĐKH

Truyền thông biến đổi khí hậu là quá trình trao đổi thông tin, kiến thức và kỹ năng liên quan đến biến đổi khí hậu với cộng đồng. Đối tượng chính của luận văn là phụ nữ, những người đóng vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình và cộng đồng bền vững. Mô hình truyền thông lồng ghép kết hợp nội dung BĐKH vào các hoạt động thường xuyên của Hội Liên hiệp Phụ nữ như các cuộc họp, tập huấn, và sự kiện cộng đồng, từ đó tăng hiệu quả tiếp cận và ảnh hưởng đến nhận thức.

1.2. Bối cảnh và ý nghĩa của nghiên cứu

Xã Tu Lý là một địa bàn nông thôn dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu, với các biểu hiện như biến động nhiệt độ, thay đổi mô hình mưa, và sụt lún đất. Phụ nữ nông thôn thường có nhận thức hạn chế về BĐKH và cách thích ứng. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của truyền thông hiệu quả trong nâng cao nhận thức cộng đồngthực hiện hành động thích ứng vào thực tế cuộc sống hàng ngày.

II. Cơ sở lý thuyết và Phương pháp nghiên cứu Truyền thông BĐKH

Luận văn xây dựng nền tảng lý thuyết trên mô hình truyền thông đa chiều kết hợp các phương pháp tuyến tính và phi tuyến tính. Khái niệm lồng ghép được định nghĩa là tích hợp nội dung BĐKH một cách tự nhiên vào các hoạt động hiện hành của tổ chức. Phương pháp nghiên cứu bao gồm điều tra bảng hỏi với hội viên Hội LHPN xã Tu Lý để đánh giá thực trạng nhận thức, hành vi ứng phónhu cầu thông tin. Dữ liệu được sử dụng để xây dựng mô hình phù hợp với hoàn cảnh địa phươngđặc điểm của đối tượng mục tiêu.

2.1. Các mô hình truyền thông được áp dụng

Luận văn so sánh mô hình truyền thông tuyến tính sơ khai, mô hình phi tuyến tính, và mô hình đa chiều. Mô hình lồng ghép được chọn là phù hợp nhất vì nó cho phép tích hợp BĐKH vào các chương trình sẵn có của Hội LHPN mà không gây gián đoạn hoạt động. Phương pháp này giúp tăng sự tiếp cận, giảm chi phí triển khai, và nâng cao hiệu quả tiếp nhận thông tin của đối tượng mục tiêu.

2.2. Phương pháp điều tra và xây dựng mô hình

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng để đo lường nhận thức ban đầu về BĐKH của phụ nữ xã Tu Lý. Luận văn xác định nội dung BĐKH cần thiết dựa trên nhu cầu thực tếkhả năng tiếp nhận của hội viên. Mô hình truyền thông được xây dựng với các nguyên tắc rõ ràng, phương thức phù hợp với văn hóa địa phương, và khả năng lồng ghép vào các hoạt động Hội LHPN như nông nghiệp, giáo dục gia đình, và phát triển cộng đồng.

III. Xây dựng và Kiểm nghiệm Mô hình Truyền thông BĐKH

Mô hình truyền thông biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của phụ nữ xã Tu Lý. Luận văn xác định các nguyên tắc xây dựng bao gồm tính khoa học, tính địa phương hóa, tính bền vững, và khả năng lồng ghép. Nội dung BĐKH được chọn lọc để phù hợp với đặc điểm nông thôn, bao gồm hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh cây trồng, và các biện pháp thích ứng canh tác. Phương thức truyền thông gồm họp thảo luận, tập huấn, biểu diễn, và các hoạt động cộng đồng được tích hợp vào chương trình hoạt động của Hội LHPN nhằm tăng tính thiết thực và bền vững.

3.1. Nội dung và phương thức lồng ghép BĐKH

Mô hình lồng ghép tập trung vào các chủ đề BĐKH thiết thực như quản lý nước mưa, canh tác thích ứng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và nâng cao resilience cộng đồng. Phương thức truyền thông bao gồm buổi họp hàng tháng, tập huấn kỹ năng, trao đổi kinh nghiệm, hoạt động ngoài trời, và truyền thông qua lãnh đạo địa phương. Mỗi phương thức được thiết kế để phù hợp với lịch trình làm việc, trình độ học vấn, và nhu cầu thông tin của hội viên.

3.2. Kết quả kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả

Kết quả kiểm nghiệm mô hình cho thấy sự cải thiện đáng kể về nhận thức BĐKH của hội viên Hội LHPN xã Tu Lý sau khi triển khai. Phụ nữ thể hiện hiểu biết sâu hơn về nguyên nhân, hậu quả BĐKH, và các biện pháp thích ứng hiệu quả. Hành vi ứng phó cũng được cải thiện, với nhiều hội viên áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp bền vữngquản lý rủi ro thiên tai trong hoạt động sản xuất hàng ngày, chứng tỏ tính hiệu quả của mô hình truyền thông lồng ghép.

IV. Kết luận Kiến nghị và Ứng dụng Mô hình Truyền thông BĐKH

Luận văn Truyền thông BĐKH cho Hội phụ nữ xã Tu Lý khẳng định tính khả thi và hiệu quả của mô hình truyền thông lồng ghép trong nâng cao nhận thức phụ nữ nông thôn về biến đổi khí hậuứng phó hiệu quả. Mô hình này có thể được nhân rộng sang các Hội LHPN khác ở những vùng nông thôn tương tự, với điều chỉnh phù hợp với bối cảnh địa phương. Luận văn đề xuất các kiến nghị chính sách về tăng cường đầu tư trong truyền thông BĐKH, hỗ trợ tổ chức cơ sở triển khai các chương trình đào tạo, và xây dựng mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các Hội LHPN để tạo tác động rộng rãi trên toàn quốc.

4.1. Những phát hiện chính và đóng góp khoa học

Luận văn chứng minh rằng truyền thông lồng ghépphương pháp hiệu quả để truyền đạt kiến thức BĐKH cho cộng đồng phụ nữ nông thôn. Mô hình đã thành công trong việc kết nối nội dung khoa học với thực tế cuộc sống hàng ngày, làm cho thông tin BĐKH trở nên thiết thực và dễ áp dụng. Đóng góp chínhcung cấp một công cụ cho các tổ chức xã hội dân sự trong công tác truyền thông BĐKH cho nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

4.2. Khuyến nghị cho các bên liên quan và triển khai tương lai

Luận văn khuyến nghị các cấp chính quyền địa phương tăng cường hỗ trợ tài chính và tổ chức cho Hội LHPN triển khai truyền thông BĐKH. Các tổ chức phi chính phủ nên kỹ năng tập huấn cho cán bộ Hội LHPN về truyền thông hiệu quả. Các nhà nghiên cứu có thể mở rộng mô hình sang các nhóm dân cư khác như nông dân nam, thanh niên nông thôn, doanh nhân nông thôn để tạo sự thay đổi tổng thể trong ứng phó BĐKHcộng đồng.

21/12/2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng mô hình truyền thông biến đổi khí hậu lồng ghép vào các hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ xã tu lý huyện đà bắc tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trên thế giới, truyền thông BĐKH hiện nay là một trong những trọng tâm hàng đầu trong chiến dịch nâng cao ý thức của cộng đồng về BĐKH. Rất nhiều biện pháp truyền thông được nhiều tổ chức trên thế giới áp dụng, tuy nhiên đa phần các biện pháp này nhắm mục tiêu tuyên truyền chung cho cả cộng đồng thay vì khoanh vùng từng nhóm đối tượng với những đặc điểm riêng biệt để có được các hình thức truyền thông phù hợp [16]. Hiện nay, các nghiên cứu về truyền thông BĐKH trên thế giới chủ yếu tập trung vào công tác truyền thông đại chúng, trong khi truyền thông BĐKH cho đối tượng phụ nữ thì chưa thực sự được chú ý. Tại Việt Nam, các chương trình truyền thông BĐKH cho phụ nữ mới chỉ chú trọng vào công tác truyền thông nâng cao vai trò của phụ nữ trong công tác ứng phó và giảm nhẹ BĐKH.

Bên cạnh đó, các chương trình đa phần mang tính điểm, chỉ áp dụng được ở một vùng địa phương nhất định, chứ chưa thực sự nhắm đến mục tiêu nâng cao nhận thức của toàn phụ nữ về BĐKH, đặc biệt là phụ nữ nông thôn và dân tộc thiểu số, cũng như chưa có một mô hình truyền thông BĐKH dành riêng cho phụ nữ. Các khái niệm cơ bản 1.1 Biến đổi khí hậu Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH đã định nghĩa "BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người" [48]. Theo Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC 2007), BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống 7 khí hậu, hoặc do những tác động từ động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất [37].

Chương trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với BĐKH cũng định nghĩa "BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất" [2]. Theo báo cáo đánh giá của IPCC (2007), BĐKH toàn cầu sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp trong thế kỷ 21 do lượng phát thải khí nhà kính đang tiếp tục tăng lên [37]. Truyền thông Định nghĩa truyền thông Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008), truyền thông là một quá trình trong đó con người làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới người nhận thông tin (đối tượng truyền thông) nhằm mục đích nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phương tiện khác nhau [15].

Mục đích truyền thông [15] Nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phương tiện khác nhau, người làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) sẽ truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới người nhận thông tin (đối tượng truyền thông). Các phương thức truyền thông [15] Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008), có 3 phương thức truyền thông thường được sử dụng. Đó là: 8 Truyền thông một chiều: Bằng phương thức này người truyền thông gửi thông điệp truyền thông đến người nhận thông điệp truyền thông qua kênh truyền thông mà không có điều kiện nhận được sự phản hồi của đối tượng truyền thông. Truyền thông 2 chiều: Theo phương thức này, thông điệp truyền thông được trao đổi giữa người gửi và người nhận thông điệp thông qua kênh truyền thông.

Người gửi thông điệp có điều kiện thu thập các thông tin phản hồi từ phía người nhận. Quá trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần. Phương thức truyền thông nhiều chiều: Khác với phương thức truyền thông hai chiều, phương thức truyền thông nhiều chiều đòi hỏi người gửi thông điệp truyền thông cần hiểu biết đối tượng truyền thông trước khi gửi thông điệp truyền thông. Để làm được việc này, người làm truyền thông phải tổ chức thu thập thông tin từ phía đối tượng truyền thông.

Có nhiều phương pháp thu thập thông tin, song phổ biến và hiệu quả nhất là tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tế tại cơ sở. Vì vậy quá trình truyền thông theo phương thức nhiều chiều bao gồm 3 bước là thu thập thông tin về đối tượng truyền thông, gửi thông điệp truyền thông tới đối tượng truyền thông, phản hồi thông tin từ phía đối tượng truyền thông. Truyền thông BĐKH Định nghĩa Truyền thông BĐKH thực chất là một loại truyền thông môi trường. Do đó, truyền thông về BĐKH cũng có những đặc điểm chung với truyền thông môi trường, đó là: Các vấn đề môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi người, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con người, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả đến các thế hệ tương lai.

Từ những đặc điểm nêu trên nên mục đích của truyền thông về BĐKH không chỉ là nhằm truyền đạt thông tin hay quá nhấn mạnh vào truyền đạt thông tin mà quan trọng hơn là nhằm thu hút mọi người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung, nhận thức chung về những vấn đề BĐKH để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm 9 và thống nhất hành động theo một hướng chung trong việc giải quyết những vấn đề của BĐKH đặt ra [15]. Lịch sử truyền thông BĐKH BĐKH là vấn đề mang tính toàn cầu và bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960. Tuy nhiên, phải đến nửa cuối thập niên 1980, các chiến dịch truyền thông về BĐKH mới thực sự được khởi xướng. Thời gian đầu, đa số các hoạt động truyền thông cho công chúng chủ yếu tập trung vào các phát hiện khoa học về BĐKH và các báo cáo tổng hợp, đôi khi là về một số hiện tượng thời tiết cực đoan, các cuộc họp cấp cao hoặc các cuộc họp hoạch định chính sách [39].

Trải qua 20 năm phát triển, truyền thông về BĐKH đã không còn là cuộc tranh luận của riêng các chuyên gia. Với sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông, nhận thức của công chúng về bản chất và tác động của BĐKH đã được nâng cao, đặc biệt là tại các nước đang phát triển – những quốc gia được xem là có khả năng chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH [40]. Ngày nay, hoạt động truyền thông BĐKH đã vượt ra ngoài các kênh dành riêng cho giới khoa học, và bắt đầu vươn tới những đối tượng truyền thông rộng khắp hơn, sử dụng những diễn đàn và kênh thông tin đa dạng hơn, truyền tải được nhiều thông điệp hơn với vô số loại mô hình truyền thông khác nhau dành riêng cho từng loại đối tượng [68]. Các hoạt động truyền thông BĐKH hiện nay được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song chủ yếu tập trung vào các mục đích chính là: Giáo dục, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi [40].

Thông điệp truyền thông BĐKH Thông điệp về nhận thức BĐKH hiện nay là một thực tế đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra trên phạm vi toàn cầu, khu vực và địa phương trong một thời gian dài (thập kỷ và thế kỷ). BĐKH đã và sẽ tác động ngày càng mạnh đến các điều kiện tự nhiên, nhất là thiên tai, bão, lụt, hạn hán, các hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội và đời sống của con 1 người hiện nay và cả các thế hệ tương lai, nhất là ở những vùng có rủi ro cao, nếu loài người không kịp thời có những giải pháp ứng phó thích hợp. Quan điểm của Nhà nước trong Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH là: Ứng phó với BĐKH được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng, bình đẳng về giới, xóa đói giảm nghèo. Tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài; đầu tư cho ứng phó với BĐKH là yếu tố quan trọng đảm bảo phát triển bền vững.

Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân và cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, từ phạm vi địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu [15]. Thông điệp về hành động Tất cả các chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn về kinh tế, xã hội, môi trường (tổng thể, ngành, lĩnh vực) đều phải xem xét đến hậu quả tác động của BĐKH ở địa phương, dựa vào kết quả đánh giá tác động và các kịch bản về BĐKH được xác định (đối tượng là các nhà hoạch định chính sách, kế hoạch, lãnh đạo chính quyền các địa phương). Các nhiệm vụ ứng phó với BĐKH phải được thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và được quán triệt trong tổ chức thực hiện. Ngoài những nội dung chủ yếu của thông điệp truyền thông nêu trên, các tuyên truyền viên có thể bổ sung những nội dung sống động, liên quan đến BĐKH và tác động của chúng đến kinh tế - xã hội ở địa phương để cho các thông điệp truyền thông sinh động hơn.

Tùy theo đối tượng cụ thể, các tuyên truyền viên về BĐKH sẽ lựa chọn và diễn đạt những nội dung thông điệp truyền thông sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, tạo được ấn tượng thông qua các hình thức truyền thông khác nhau, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương [15]. Các nghiên cứu về truyền thông BĐKH dành cho Phụ nữ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ