CHƯƠNG 1: CẦU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ RỦI RO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1. Khái quát chung về doanh nghiệp và cấu trúc tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là gì và vai trò của nhà quản lý tài chính quan trọng như thế nào? mục tiêu của quản lý tài chính là gì? Đó là những vấn đề âun tâm cần được làm rõ khi nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp. nhưng để làm tốt vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp thì nhà quản lý tài chính phải dựa vào nhiều công cụ quản lý khác nhau.
Trong đó có sự tham gia của cấu trúc tài chính doanh nghiệp. hơn nữa để doanh nghiệp. hơn nữa để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì nhà quản lý phải làm tốt hoạt động tài chính của doanh nghiệp mình.1 Khái quát về doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp Qua phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay: Doanh nghiệp: là một chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp. về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì rất đa dạng và nhiều nghành nghề khác nhau, nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau song có 5 hình thức doanh nghiệp sau: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước, công ty hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn.
mổi loại hình doanh nghiệp có những đặc thù riêng và hình thức hoạt động khác nhau tuỳ theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân: là một đơn vị kinh doanh có mức vốn pháp định. Do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản của mình và mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước: là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích, hoạt động kinh doanh do nhà nước đặt ra.
Từ Như Vũ 2 LTĐH13 - TCA Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Công ty hợp doanh: là một đơn vị kinh doanh được thành lập từ hai hay nhiều thành viên và mổi thành viên phải xác định được số vốn góp của mình và phần lợi nhuận được hưởng từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty cổ phần: là đơn vị kinh doanh mà số thành viên trong thời gian hoạt động phải có ít nhất 7 người. vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau. Giá trị mổi cổ phần được gọi là cổ phiếu mổi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiểutong quá trình hoạt dộng của doanh nghiệp số thành viên và số cổ phiếu có thể thay đổi.
Công ty hợp danh là một đơn vị kinh doanh được sở hữu bởi hai hay nhiều người chủ. Các chủ hữu phải xac định phần vốn góp của họ trong tài sản và phần thu nhập thu được từ kết quả hoạt động của công ty. Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh tồn tại độc lập, tách rời các chủ sở hữu của nó. Công ty cổ phần là một pháp nhân kinh tế độc lập nên nó không phụ thuộc vào sự rút lui của một chủ sở hữu nào.
Các sáng lập viên của công ty có thể chuyển giao quyền sở hữu cho một thành viên khác mà không làm gián đoạn công việc kinh doanh của công ty. Các cổ đông được quyền nhận lợi tức cổ phần và được quyền biểu quyết bầu Hội Đồng Quản Trị. Công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp do một chủ sở hữu nắm giữ mà đại diện nắm quyền là nhà nước, quản lý nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu chung là phát triển kinh tế xã hội.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp mà vốn của nó đựơc đóng góp bởi các thành viên. Các thành viên vừa là chủ sở hữu vừa là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Các thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với số vốn góp của mình. Thu nhập của công ty được chia cho các thành viên theo tỷ lệ vốn góp.
Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau. Từ Như Vũ 3 LTĐH13 - TCA Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Khái quát về cấu trúc tài chính doanh nghiệp Khái niệm về cấu trúc theo nghĩa chung nhất là đề cập đến các bộ phận cấu thành và mối liên hệ của chúng trong một tổng thể, quá trình vận động và sự tương tác giữa các bộ phận qui định bản chất của tổng thể. Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huy động và sử dụng vốn để tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
Hoạt động huy động vốn gọi là chức năng tài trợ của tài chính là quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ các nguồn lực bên trong và bên ngoài để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh lâu dài với chi phi thấp. Nguồn lực tài chính bên trong: sự góp vốn từ các chủ sở hữu, lợi nhuận để lại. Nguồn lực bên ngoài: các nhà đầu tư, nhà nước, các tổ chức tín dụng. Hoạt động sử dụng vốn hay còn gọi là đầu tư là quá trình phân bổ vốn ở đâu, khi nào, bao nhiêu sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả nhất.
Những chức năng trên cho thấy bản chất của tài chính là các quan hệ kinh tế tiền tệ thông qua hoạt động huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Từ khái niệm chung về cấu trúc và tài chính doanh nghiệp, cấu trúc tài chính doanh nghiệp được khái niệm như sau: Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một khái niệm phản ảnh một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính doanh nghiệp trên hai mặt là cơ cấu nguồn vốn gắn liền với quá trình huy động vốn, phản ảnh chính sách tài trợ của doanh nghiệp và cơ cấu tài sản gắn liền với quá trình sử dụng vốn, phản ảnh và chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác thể hiện mối liên hệ và sự vận động của các yếu tố nguồn vốn và tài sản nhằm hướng đến mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Tài liệu và phương pháp phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 1.
Tài liệu dùng phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp Để phục vụ công tác phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp, các tài liệu cần thiết là: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, và các tài liệu chi tiết khác. Từ Như Vũ 4 LTĐH13 - TCA Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Phương pháp phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp Khi phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các phương pháp sau đây: - Phương pháp so sánh: Là phương pháp sử dụng phổ biến nhất. Để áp dụng phương pháp này trong phân tích cấu trúc tài chính cần quan tâm đến tiêu chuẩn, điều kiện, kỹ thuật so sánh.
+ Tiêu chuẩn so sánh: Trong phân tích cấu trúc tài chính, thường dùng các gốc so sánh : Số liệu nhiều kì trước, số liệu Trung bình ngành, số liệu kế hoạch. + Điều kiện so sánh: Các chỉ tiêu phân tích phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, phương pháp tính toán , đơn vị đo lường. + Kỹ thuật so sánh: Trình bày báo cáo dạng so sánh để xác định mức biến động tuyệt đối và tương đối của từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, trình bày báo cáo theo qui mô chung, để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể. Phương pháp phân tích tương quan: Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với nhau.
Chẳng hạn, mối tương quan giữa doanh thu (Báo cáo lãi, lỗ) với các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho (Bảng cân đối kế toán). Phân tích tương quan sẽ đánh giá tính hợp lý về sự biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỷ số tài chính phù hợp hơn và phục vụ tốt cho công tác dự báo tài chính tại doanh nghiệp. Có rất nhiều phương pháp phân tích, tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp nào là do nghệ thuật của từng nhà phân tích, để có thể đánh giá chính xác toàn diện về bức tranh tài chính của doanh nghiệp. Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp 1.
Khái quát chung về cấu trúc tài sản của doanh nghịêp Cấu trúc tài sản doanh nghiệp là cơ cấu tài sản, mức độ phân bổ vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hay là tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản. Một cấu trúc tài chính hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh nghiệp. Từ Như Vũ 5 LTĐH13 - TCA Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Các chỉ tiêu dùng để phân tích cấu trúc tài sản doanh nghiệp Có rất nhiều chỉ tiêu phản ảnh cấu trúc tài sản doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng nhà phân tích.
Tuy nhiên nguyên tắc khi thiết lập chỉ tiêu phản ảnh cấu trúc tài sản là: Tài sản loại i K= x100 Tổng tài sản Loại tài sản i trong công thức trên là những tài sản có cùng một đặc trưng kinh tế nào đó: khoản phải thu, hàng tồn kho, TSCĐ.tổng tài sản trong công thức trên là số tổng cộng trên BCĐKT.Với nguyên lý này khi phân tích cấu trúc tài sản thường sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau: - Tỷ trọng Giá trị còn lại TSCĐ Tỷ trọng tài sản cố định = x100% Tổng tài sản Chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu tài sản cố định trong tổng tài sản, phản ảnh mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp hay trong 100đ tài sản thì giá trị TSCĐ chiếm bao nhiêu đồng. Giá trị chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh. Trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì giá trị chỉ tiêu này thường cao, ngược lại trong các doanh nghiệp thương mại thì giá trị chỉ tiêu này thường thấp. - Tỷ trọng đầu tư tài chính Giá trị đầu tư tài chính Tỷ trọng đầu tư tài chính = x100% Tổng tài sản Giá trị đầu tư tài chính trong chỉ tiêu trên bao gồm đầu tư tài chính, góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản và đầu tư khác.