Chương 1: Tổng quan về đề tài “ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nam Bắc” Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 15 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nam Bắc. Chương 4: Nhận xét và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Nam Bắc. Do thời gian tìm hiểu và khảo sát không được nhiều, cùng với khả năng và hiểu biết còn hạn chế nên nội dung trong bài có thể còn sơ sài và không tránh khỏi SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 16 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng những sai sót.
Em rất mong các thầy cô cùng các bạn sinh viên quan tâm đến bài viết đóng góp những ý kiến để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 17 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số các định nghĩa khái niệm cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.1, Khái niệm vốn kinh doanh SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 18 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, bất kì doanh nghiệp nào cũng cần phải có được các yếu tố cần thiết như kho tàng, cửa hàng, văn phòng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hoá… Muốn có được các tài sản này, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định để đầu tư, mua sắm, thuê mướn…Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 19 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng tâm và nghĩ đến là làm sao để có đủ vốn và phải sử dụng nó như nào để đem lại hiệu quả cao nhất. Vậy vốn kinh doanh là gì? Theo quan điểm của Mark – nhìn dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì “ Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.
Tuy nhiên Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 20 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Cách hiểu này phù hợp với nền kinh tế sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và phát triển. Theo cuốn “kinh tế học” của David Begg cho rằng: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, hay tiền gửi ngân hàng…Đất đai không được coi là vốn. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 21 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Theo giáo trình Tài chính Doanh nghiệp của trường đại học Thương mại: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ lượng tiền cần thiết để bắt đầu và duy trì các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận trên thì vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra các hoạt động kinh doanh. Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 22 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng tiền đầu tư ứng trước cho kinh doanh của doanh nghiệp đó. Với yêu cầu mục tiêu về hiệu quả hoạt động, số vốn ứng trước ban đầu cho kinh doanh sẽ phải thường xuyên vận động và chuyển hoá hình thái biểu hiện từ tiền tệ sang các tài sản khác và ngược lại.
Do đó, nếu xét tại một thời điểm nhất định thì vốn kinh doanh không chỉ là vốn bằng tiền mà còn là các hình thái tài sản khác. Cho nên, có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 23 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong điều kiện lịch sử khác nhau. Vì vậy, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản lí vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, có thể khái quát “ Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận”.3, Phân loại vốn kinh doanh.1, Phân loại vốn theo nguồn hình thành.
SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 24 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau.
Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 25 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Nợ phải trả Nợ phải trả là nguồn vốn kinh doanh ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị, cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người cho vay cả lãi và gốc. Phần vốn này được doanh nghiệp sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp…) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.
SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 26 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng 2.2, Phân loại dựa trên tốc độ chu chuyển vốn. Vốn cố định: Là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của tài sản cố định, bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cố định vô hình. TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái: SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 27 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng - Hình thái hiện vật: là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ… - Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Vốn lưu động : Là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn sử dụng trong kinh doanh. SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 28 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương…Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá.
Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 29 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng sản xuất kinh doanh đó. Vốn lưu động ứng với các doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau. Không những thế tỷ trọng, thành phần cơ cấu của các loại vốn này trong các doanh nghiệp cũng khác nhau. Trong doanh nghiệp thương mại tỷ trọng của vốn lưu động chiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu.
Trong hai loại vốn này, vốn cố định có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn lưu động. Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đã chu chuyển được nhiều vòng. Việc phân chia theo SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 30 GVHD: PGS.TS Trần Thế Dũng cách này giúp các doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu vốn phù hợp.3, Phân loại theo phạm vi huy động và sử dụng vốn Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động bản thân của doanh nghiệp như: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ… SVTH: Vũ Thị Vui K42D1 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luan van Luận văn tốt nghiệp 31 GVHD: PGS.