Chương 1: Tổng quan tài liệu 1. SƠ LƯỢC VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Vài nết về giá trị của cây lúa Lúa là cây lương thực lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới về diện tích và về tổng sản lượng. Lúa xấp xỉ lúa mì nhưng lớn hơn hẳn các cây lương thực khác về giá trị kinh tế.
So sánh thành phần sinh hóa của một số cây lương thực ta thấy cây lúa giàu tinh bột và đường, tuy nhiên nghèo protit và chất béo hơn lúa mì và ngô. Lúa có tầm quan trọng sống còn đối với hơn một nửa dân số thế giới, nó là loại lương thực chủ yếu hiện nay trong bữa ăn hàng ngày của hàng tỷ người Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và khu vực Trung Đông, trong tương lai nó vẫn sẽ là loại lương thực hàng đầu. Theo ước tính của các nhà khoa học, tổng sản lượng lúa hàng năm của thế giới phải tăng từ 460 triệu tấn năm 1987 lên tới 560 triệu tấn năm 2000 và 760 triệu tấn năm 2020 mới đáp ứng được mức tăng dân số như hiện nay (Phan Thị Kim Ngân 2003). Sơ lược về nguồn gốc cây lúa Cây lúa là một trong những cây trồng đã có từ lâu và gắn liên với lịch sử tiến hóa của loài người nhất là ở Châu Á.
Tuy chưa thống nhất nhưng có nhiều tài liệu lịch sử và di tích khảo cổ đã chứng minh vé phương diện sinh thái học, cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt lâu đời. Nguồn gốc cây lúa là từ vùng dim lẫy Đông Nam A, từ đó cây lúa mới lan tran đi khắp nơi (Phạm Hoàng Hộ, 1972; Dinh Văn Lữ,1978). Về phương diện thực vật học, lúa trồng có nguồn gốc hoang đại, sau đó qua chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo lâu đời mà hình thành nên. Đến nay, trong những điều kiện sinh thái khác nhau, lúa trổng cũng đã hình thành ra nhiều loại hình như lúa mùa, lúa xuân, lúa chiêm, lúa nước, lúa cạn.
và trong từng loại hình lúa còn có rất nhiều giống lúa có những đặc trưng, đặc tính khác nhau (Dinh Văn Lữ, 1978). Vị trí phân loại cây lúa Cây lúa thuộc : Ngành : Angiospermatophyta Lép : Monocotyledoneae Phân lớp: Liliidae Bộ : Poales Ho : Poaceae Loai : Oriza sativaL. Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA CÂY LÚA 1.
Thời gian sinh trưởng và phát dục của cây lúa Tùy từng giống lúa (lúa ngắn ngày hay dài ngày) và tùy theo vụ lúa (chiêm, xuân hay mùa) mà thời gian sinh trưởng và phát dục của cây lúa dài ngắn khác nhau. Các giống lúa ngắn ngày thời gian sinh trưởng khoảng từ 100 — 130 ngày, Các giống lúa trung bình thời gian sinh trưởng 130 — 140 ngày. Các giống dài ngày thời gian sinh trưởng từ 150 ngày trở lên. Cùng một giống lúa ngắn ngày, gieo cấy trong vụ xuân thời gian sinh trưởng dài hơn vụ mùa.
Hầu hết các tác giả Ramiah (1933), Chnadraratna (1951-1961), Nagao (1959), Chang (1964), Janathan (1976), Yoshida- Shuchi (1980-1984), Trần Duy Quý và cộng sự (1978-1983), Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự (1982-1993) đều cho rằng tính chín sớm hay chín muộn đều liên quan đến tuổi thọ của bộ lá và khả năng làm hạt. Sự khác nhau của các giống về thời gian sinh trưởng chủ yếu là ở giai đoạn sinh trưởng cơ bản, các giống chín sớm đều có thời gian sinh trưởng ngắn (Ngô Hữu Thông, 2001). Thời gian sinh trưởng của các giống lúa dài, ngắn khác nhau nhưng nói chung đêu có thể phân ra những thời kỳ sinh trưởng phát dục nhất định (Dinh Văn Lữ, 1978): Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt HỆ, Nảy mầm Ma ————+ Nảy mẩm --> 3 lá Sinh trưởng sinh đưỡng >> 3 lá --> cấy Bén chân Đẻ a Dé nhánh hữu hiệu Đẻ nhánh vô hiệu Làm đốt , làm đồng Sinh trưởng sinh thực “ưa ` Trổ bông, phơi mau, vào chấc và chín 122. Mâm lúa Hạt có hai đặc điểm nổi bật : - Tiểm sinh: hàm lượng nước của hạt rất thấp (chiếm 10% chất khô), mọi hoạt động sống ở mức tối thiểu (giúp hạt kháng với các điều kiện bất lợi).
- Chứa các chất dự trữ: các chất dự trữ trong phôi nhũ hay tử điệp là nguồn chất dinh dưỡng cho phôi lúc nay mắm, trong khi chờ phôi tự dưỡng (Bùi Trang Việt, 1998). Muốn cho hạt lúa nảy mdm thì lượng nước trong hat đạt khoảng 22% - 25% trọng lượng khô của hạt. Sự hút nước tùy vào nhiệt độ không khí khi ngâm, nhiệt độ nước ngâm, vỏ trấu dày hay mỏng mà thời gian ngâm dài, ngắn khác nhau. Thông thường ở nhiệt độ không khí từ 30°C - 40°C, nước ấm Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt (ba sôi, hai lạnh), vỏ trấu mỏng thì thời gian ngâm hạt 24 tiếng đồng hồ là đủ.
Nếu ngắn hơn có thể hạt chưa hút đủ nước, nếu quá dài thì hạt lúa sẽ bị chua, thối, không thể nảy mâm. Nếu mắm lúa khỏe thì cây lúa sau này cũng sẽ khỏe và sinh trưởng tốt nên giai đoạn ngâm lúa cũng rất quan trọng.3, Ré lúa Bộ rễ lúa gồm nhiều rễ gọi là rễ chùm. Rễ đầu tiên của hat lúa được mọc ra từ phôi gọi là rễ mộng và chỉ có một cái. Rễ mộng có tác dụng hút nước cho mầm trong thời gian đầu rồi sau đó chết đi.
Các rễ phụ sau này mọc ra, họp lại thành một bộ rễ. Đối với rễ chánh từ rễ mắm, cũng như rễ thứ cấp phân nhánh từ các rễ chánh hay rễ bất định, sự tăng trưởng theo chiểu đài được thực hiện nhờ mô phân sinh ngọn min dưới chóp rễ (Bùi Trang Việt, 1998) 1. Lá lúa Lá lúa thuộc lớp đơn tử diệp, lá mọc ở hai bên thân cây lúa, mỗi vòng thân có hai lá nên công thức xếp lá là 1⁄2. Một lá lúa hoàn chỉnh gồm các bộ phận: bẹ lá, phiến lá, cổ lá, tai lá và lưỡi lá (thìa la).
Ở thời kỳ lúa con gái, bẹ lá ôm lấy nhau tạo thành thân của nhánh lúa, đó là thân giả (Vũ Văn Hiển, 1999). Bẹ lá có nhiệm vụ che chở thân và tăng thêm phẩn cứng rắn cho thân mềm yếu (Phạm Hoàng Hộ, 1973). Lá lúa mọc tử mim lá trên mắt đốt thân. Mỗi mắt đốt thân tương ứng với một lá nên cây lúa có bao nhiêu mắt đốt thân thì cũng có bấy nhiêu lá (Vũ Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Văn Hiển, 1999).
Phiến lá có một gân chính đày, màu lụa và nhiều gân phụ song hành. Ở phan phiến lá gấn vào be lá chính là cổ lá. Ở cổ lá có hai phụ bộ dài mang lông gọi là tai lá. Tai lá là một bộ phận đặc trưng cho cây lúa trong họ hòa thảo.
Lá lúa hình thành qua 4 giai đoạn: giai đoạn mdm lá bắt đầu phân hóa, giai đoạn hình thành phiến lá, giai đoạn hình thành bẹ lá và giai đoạn lá xuất hiện. Số lá của cây lúa nhiều ít tùy giống, các giống ngăn ngày thì có khoảng 12- 13 lá, có giống chín vụ thì 15-16 lá hoặc 19-21 lá như các giống lúa dài ngày. Nhánh lúa Nhánh lúa là một cây lúa con mọc từ m4m nhánh trên thân cây mẹ, do đó nhánh lúa có đủ thân, lá, rễ và có thể sống độc lập, trổ bông kết hạt được. Quá trình hình thành nhánh gồm 4 giai đoạn: giai đoạn mim nhánh phân hóa, giai đoạn nhánh hình thành, giai đoạn nhánh dài ra trong bẹ lá và giai đoạn nhánh xuất hiện.
Do quá trình hình thành nhánh lúa qua 4 giai đoạn nên khi cây lúa đã bat đầu đẻ nhánh thì cây lúa cứ ra một lá mới thì có thể có một nhánh mới xuất hiện tương ứng. Thân lúa Thân lúa có nhiệm vụ giúp cây đứng vững, tích lũy và vận chuyển các chất trong cây. Cây lúa có thân giả và thân thật. Thân giả là do các bẹ lá kết lại với nhau bao lấy thân thật nên nhìn thân có hình bẹt và sờ thấy xốp.
Thân thật gồm các lóng nối với nhau kế tiếp qua các đốt, phần cuối của thân là bông Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt lúa. Ở thân thật, các lóng phía dưới của thân rất ngắn, ngược lại các lóng phía trên thân thì ngày càng dài ra, lóng sau dai hơn long trước, dai nhất là lóng sát bông (Đinh Văn Lữ, 1978). Bông lúa Khi bông lúa còn đang ở giai đoạn hình thành, nằm trong bẹ lúa chưa trổ ra ngoài ta gọi là đòng lúa. Bông lúa gồm trục bông , các giế cấp 1, 2 và hoa.
Một bông lúa từ khi bắt đầu nhú khỏi be đến khi trổ hết cuống bông có thể mất 2 đến 3 ngày hoặc 5 đến 6 ngày tùy theo giống lúa và thời vụ gieo cấy. Phơi màu là quá trình thụ phấn và thụ tỉnh của hoa lúa. Bông lúa trổ đến đâu thì hạt lúa có thể phơi màu đến đó nhưng cũng có giống lúa trổ hết cuống bông rồi các hoa đầu bông mới phơi màu. Trên một bông lúa bao giờ các hoa đầu bông, các hoa đầu gié cũng nở trước.
Trong một ngày có thời tiết thuận lợi, trời mát, quang mây thì hoa thường nở rộ vào khoảng 8 - 9 giờ sáng. Hoa lúa là hoa lưỡng tính nên trong thụ phấn thì sự tự thụ là chính, tỷ lệ lai tự nhiên chỉ khoảng 2%. Hạt lúa Hạt lúa chính là một hoa lúa sau khi thụ phấn, thụ tỉnh đã phát triển và hình thành. Về bản chất, hạt lúa là một quả.
Quả lúa gdm vỏ trấu và hạt gạo. Hạt gạo gồm hai phẩn: nội nhũ và phôi. Nội nhũ là bộ phận dự trữ dinh dưỡng để nuôi phôi và khi hạt nẩy mắm. Phôi ở phía cuống của hạt thóc, khi nảy mdm thì phôi phát triển thành mầm và rễ.
Luận văn tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Từ khi lúa trổ bông, thụ phấn, thụ tính cho đến khi hạt lúa hình thành và chín hoàn toàn thì mất khoảng 30-40 ngày. Trong thời gian nay chủ yếu cây lúa làm hạt và tích lũy tính bột nên cần có những biện pháp kĩ thuật để cho hạt tích lũy được nhiều chất dinh dưỡng. CAC YẾU TỐ SINH THÁI ANH HUGNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA 1. Nhiệt độ Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa.
Nhiệt độ tới hạn của cây lúa trong khoảng từ 20° đến 36°C. Nhiệt độ này thay đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng, đặc điểm của giống và tình trạng sinh lý của cây (Phan Thị Kim Ngân, 2003).