Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kinh tế trang trại tại Việt Nam đã hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn gắn liền với các chủ trương đổi mới kinh tế nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IV), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) về phát huy quyền tự chủ của kinh tế hộ nông dân, và Luật Đất đai năm 1993. Các chính sách này đã tạo hành lang pháp lý thúc đẩy kinh tế hộ phát triển lên quy mô kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa tập trung. Tại tỉnh Thái Nguyên, phong trào sản xuất kinh doanh nông nghiệp đã ghi nhận sự chuyển dịch rõ nét trong hơn 30 vạn hộ nông dân, xuất hiện nhiều mô hình trang trại áp dụng kỹ thuật tiến bộ nhằm cung ứng nông sản ra thị trường. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn bộc lộ những vấn đề lý luận và thực tiễn cần hoàn thiện như quy hoạch đất đai, nguồn vốn đầu tư, trình độ quản trị và khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ. Trong bối cảnh đó, khóa luận lựa chọn khảo sát thực tế mô hình sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu của Trang trại Phạm Bá Duy tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên nhằm làm rõ hiệu quả hoạt động và đề xuất giải pháp thúc đẩy mô hình phát triển bền vững.

Khóa luận xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu về mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại sản xuất nấm Phạm Bá Duy, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Về chuyên môn, nghiệp vụ:
      1. Nắm được quá trình hình thành và phát triển của trang trại sản xuất nấm Phạm Bá Duy;
      2. Nắm vững kỹ thuật và trực tiếp thực hiện các khâu công việc trong quy trình sản xuất các loại nấm: nấm sò, nấm mộc nhĩ và nấm linh chi;
      3. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm;
      4. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy tại tổ 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên.
    • Về thái độ, tác phong: Thực hiện nghiêm túc nội quy cơ sở về giờ giấc, an toàn lao động; chủ động hỗ trợ cơ sở trong các hoạt động sản xuất thường nhật.
    • Về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, bố trí công việc khoa học và nâng cao khả năng chịu áp lực thực tế trong môi trường sản xuất nông nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu tổ chức bộ máy, quy trình kỹ thuật sản xuất các loại nấm và hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy.
  • Phạm vi không gian: Trang trại nấm Phạm Bá Duy tại tổ 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (quy mô diện tích 1 ha, nằm trong khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên).
  • Phạm vi thời gian: Đợt thực tập và thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ ngày 14 tháng 08 năm 2017 đến ngày 12 tháng 11 năm 2017; các dữ liệu thứ cấp và tình hình sản xuất kinh doanh tập trung đánh giá mốc năm 2017 và quá trình hoạt động từ năm 2009 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm về công tác tổ chức, tổ chức lao động, bản chất kinh tế trang trại và mô hình hợp tác xã theo quy định pháp luật. Trang trại được xác định là tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp hàng hóa thời kỳ công nghiệp hóa, có tư cách pháp nhân độc lập, tự chủ kinh tế và tỷ trọng nông sản hàng hóa đạt từ 70% đến 80% trở lên. Vai trò của trang trại được phân tích toàn diện trên 3 phương diện: kinh tế (tạo giá trị sản xuất vượt trội kinh tế hộ, hình thành vùng sản xuất chuyên canh), xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập, hạn chế di cư tự do ra đô thị), và môi trường (tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, cải tạo đất, hạn chế đốt rơm rạ phá hủy hệ sinh thái). Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm nhóm bên ngoài (chính sách tín dụng, đất đai, lao động, thị trường tiêu thụ) và nhóm bên trong (trình độ chủ trang trại, cơ cấu tổ chức một cấp quản lý, lựa chọn mô hình theo lợi thế đất đai).

Căn cứ pháp lý áp dụng trong khóa luận gồm:

  • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định kinh tế trang trại (thay thế Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK và Thông tư số 74/2003/TT-BNN).
  • Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại.
  • Nghị định số 51/1999/NĐ-CP và Nghị định số 30/1998/NĐ-CP liên quan đến ưu đãi đầu tư và thuế thu nhập.
  • Nghị định số 85/NĐ-CP và Nghị định số 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất nông nghiệp, lâm nghiệp.
  • Luật Đất đai năm 2003 (Điều 82 quy định về đất sử dụng cho kinh tế trang trại).

Phương pháp nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu tính toán bao gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Kế thừa báo cáo, số liệu thống kê từ Ủy ban nhân dân xã Quyết Thắng, tài liệu lưu trữ của trang trại Phạm Bá Duy, báo cáo khuyến nông và các đề tài thực tập trước (K45-KTNN-N03).
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), gồm phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại (anh Phạm Bá Duy), người quản lý điều hành (ông Phạm Huy Toàn), công nhân làm việc; kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp tại các khu nhà xưởng sản xuất nấm.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Thống kê mô tả; phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế:
    • Giá trị sản xuất: $GO = \sum (P_i \times Q_i)$ (trong đó $P_i$ là giá sản phẩm thứ $i$, $Q_i$ là khối lượng sản phẩm thứ $i$).
    • Chi phí trung gian: $IC = \sum C_i$ (toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên như giống, bao bì, hóa chất, điện nước).
    • Giá trị gia tăng: $VA = GO - IC = V + C + M$ (trong đó $V$ là chi phí lao động sống, $C$ là khấu hao tài sản cố định, $M$ là giá trị thặng dư).
    • Các chỉ tiêu hiệu quả: Hiệu quả sử dụng đất ($GO/\text{ha}$, $VA/\text{ha}$); Hiệu quả chi phí ($GO/IC$); Hiệu quả sử dụng lao động ($GO/\text{LĐ}$, $VA/\text{LĐ}$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu kinh tế trang trại tại tỉnh Thái Nguyên trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Phần này xác định hệ thống mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể; làm rõ nhiệm vụ của sinh viên thực tập tại cơ sở; đồng thời thiết lập khung kế hoạch thực tập chi tiết từ ngày 14/08/2017 đến ngày 21/12/2017 qua 5 giai đoạn: từ tiếp cận địa bàn, chào hỏi làm quen môi trường, tham gia trực tiếp quy trình sản xuất nấm, báo cáo tổng kết tại cơ sở đến hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phần tổng quan hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế trang trại, đối chiếu các tiêu chí định lượng theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT đối với trang trại trồng trọt (diện tích tối thiểu 3,1 ha, giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên). Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp tình hình phát triển trang trại trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Thế giới: Nghề trồng nấm công nghiệp hóa cao tại Châu Âu, Bắc Mỹ với hệ thống xử lý tự động và ứng dụng robot; tại Châu Á, sản lượng nấm chiếm 70% toàn cầu, tiêu biểu là Nhật Bản (nấm hương đạt hàng triệu tấn/năm) và Hàn Quốc (nổi tiếng về xuất khẩu nấm linh chi).
  • Việt Nam: Tính đến ngày 01/07/2016, cả nước có 33.488 trang trại (tăng 67,2% so với năm 2011), sử dụng 187 nghìn ha đất và 134,7 nghìn lao động thường xuyên; tổng doanh thu năm 2016 đạt 93.098 tỷ đồng. Phân tích kinh nghiệm thực tiễn tại Vĩnh Phúc (tỷ lệ trang trại tổng hợp chiếm 53,4%, trang trại chăn nuôi chiếm 30,1%), Hải Dương (659 trang trại, diện tích bình quân 2,87 ha/trang trại).
  • Tỉnh Thái Nguyên: Kinh tế trang trại phân hóa rõ nét theo 3 tiểu vùng sinh thái kinh tế được thể hiện trong bảng số liệu tổng hợp sau:
Vùng sinh thái kinh tế Cơ cấu loại hình chủ yếu Quy mô đất bình quân Giá trị sản xuất (GO) bình quân Thu nhập bình quân Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tiêu biểu
Vùng cao Lâm nghiệp (33,7%), Chăn nuôi (39%), Trồng cây lâu năm (10,4%) Quy mô lớn nhất Chi phí thấp (78.000 đồng) 33.000 đồng Sản xuất chủ yếu tự phát, năng lực đầu tư hạn chế
Vùng thấp Chăn nuôi chiếm ưu thế (71,2%) 2,07 ha/trang trại 285.000 đồng (tăng 255,7% so vùng cao) 67.000 đồng (tăng 201% so vùng cao) $GO/\text{LĐ} = 88,68$ triệu đồng;
$VA/\text{LĐ} = 20,93$ triệu đồng;
$GO/IC = 1,23$ lần
Vùng giữa Chuyên biệt chăn nuôi gia súc, gia cầm (76,5%) 0,96 ha/trang trại 225.000 đồng 41.000 đồng Giá trị hàng hóa/LĐ đạt 70,67 triệu đồng (riêng chăn nuôi đạt 82,53 triệu đồng)

Phần 3: Kết quả thực tập

Chương này phản ánh toàn diện các nội dung khảo sát thực địa tại địa phương và trang trại:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Quyết Thắng: Diện tích tự nhiên 1.115,52 ha (đất nông nghiệp chiếm 793,31 ha tương đương 68,65%); dân số 9.645 người với 2.387 hộ; lao động trong độ tuổi có 4.000 người (nông nghiệp chiếm 60%, dịch vụ 35%, công nghiệp - xây dựng 5%). Địa hình đồi bát úp lượn sóng, nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình 5-6 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 23-25°C, số giờ nắng 1.588 giờ/năm, lượng mưa trung bình 2.007 mm/năm và độ ẩm trung bình đạt 82% (tháng 7 lên đến 86,8%), là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài nấm ưa ẩm.
  • Lịch sử hình thành và nguồn lực Trang trại Phạm Bá Duy: Thành lập ngày 31/07/2009 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 17A80016820 do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên cấp, đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 04/08/2014. Vốn điều lệ đăng ký 630.000 đồng, tổng số vốn cơ sở là 1.000 đồng, vốn góp của các thành viên là 600.000 đồng với lãi suất ngân hàng 9%/năm. Năm 2014, thành lập Hiệp hội nấm Linh Chi Việt đặt trụ sở tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; năm 2016 mở rộng thành Hợp tác xã Quyết Thắng gồm 7 thành viên. Cơ sở vật chất từ 3.000 m2 nhà xưởng ban đầu đã mở rộng trên diện tích thuê 1 ha, liên kết chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nhiều hộ vệ tinh.
  • Cơ cấu bộ máy tổ chức: Vận hành theo mô hình quản lý một cấp tinh gọn:
    • Chủ trang trại (anh Phạm Bá Duy, sinh năm 1986, Cử nhân kinh tế tài chính): Quản lý chung, điều hành sản xuất kinh doanh, bảo dưỡng hạ tầng, quản lý tài chính, kiểm soát kỹ thuật giống và bảo vệ thực vật.
    • Người quản lý, điều hành (ông Phạm Huy Toàn): Trực tiếp kiểm tra, điều hành vốn, bảo vệ cơ sở vật chất và giám sát quy trình sản xuất, chăm sóc, thu hoạch.
    • Lực lượng lao động: Gồm 1 lao động gia đình và 4 lao động thuê ngoài thường xuyên, kết hợp tuyển dụng lực lượng sinh viên Đại học Nông Lâm làm thêm bán thời gian.
  • Kỹ thuật và quy trình sản xuất nấm sò: Khóa luận ghi chép chi tiết chuỗi kỹ thuật gồm 4 bước:
    1. Xử lý nguyên liệu: Sử dụng mùn cưa, bông phế thải (tối thiểu 300 kg/mẻ), hòa nước vôi đã tôi tỷ lệ 4 kg vôi/1.000 kg nguyên liệu để làm ẩm và khử trùng, ủ đống bọc nilon 3-4 ngày rồi đảo đều đến khi vắt nguyên liệu thấy nước rỉ qua kẽ tay.
    2. Cấy giống: Đóng nguyên liệu vào túi nilon kích thước 30 x 45 cm (gấp đáy), nén nhẹ thành từng lớp dày 5-7 cm, rắc giống nấm thành 3 lớp quanh thành túi và phủ kín bề mặt, nút cổ bông chén và buộc chun chặt; trọng lượng bịch đạt 2,4 - 2,7 kg; định mức cấy 16-20 bịch/kg giống (khoảng 4,0 - 4,5 kg giống/100 kg rơm rạ khô).
    3. Ươm giống và rạch bịch: Nuôi sợi trong nhà ươm thoáng mát 20-25 ngày đến khi sợi nấm ăn kín đáy bịch; dùng dao sắc rạch 6-8 đường dài 5-6 cm so le quanh thân bịch.
    4. Chăm sóc và thu hoạch: Sau rạch bịch 4-6 ngày không tưới; khi mầm nấm xuất hiện tiến hành tưới phun sương 4-6 lần/ngày; phòng ngừa các bệnh mốc xanh, mốc đen, mốc vàng và nhiễm khuẩn mũ nấm; thu hái khi mũ nấm đạt kích thước chén nhỏ, thời gian thu hoạch kéo dài 30-45 ngày (hiệu quả nhất trong 30 ngày đầu với 3-4 đợt hái).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các kết quả thực tế trong tổ chức sản xuất kinh doanh của cơ sở nấm Phạm Bá Duy qua các chỉ số cụ thể:

Hạng mục chỉ tiêu Nội dung và giá trị ghi nhận tại cơ sở
Quy mô đất đai và nhà xưởng Tổng diện tích 1 ha; diện tích nhà xưởng ban đầu 3.000 m2 tại tổ 10, xã Quyết Thắng
Cơ cấu sản phẩm thương mại - Bịch nấm thành phẩm: Nấm Linh Chi, Nấm Sò, Nấm Mộc nhĩ đen
- Nấm thành phẩm: Nấm Linh Chi đỏ, Nấm Sò tươi, Nấm Mộc nhĩ đen khô
Cơ cấu nhân sự thường trực 01 chủ trang trại, 01 quản lý điều hành, 01 lao động gia đình, 04 lao động thuê ngoài cố định và lao động sinh viên thời vụ
Chứng nhận và liên kết Năm 2014 đạt bình chọn "Sản phẩm chất lượng sạch và an toàn"; năm 2016 nâng cấp lên Hợp tác xã Quyết Thắng (7 thành viên)
Năng suất - kỹ thuật nấm sò Bịch phôi nặng 2,4 - 2,7 kg; tỷ lệ cấy giống 16 - 20 bịch/kg giống; thu hoạch 3 - 4 đợt kéo dài 30 - 45 ngày

Các giải pháp và đóng góp của khóa luận:

  • Đánh giá thực trạng mô hình tổ chức trang trại nấm kết hợp giữa nghiên cứu ứng dụng và kinh doanh trong khuôn viên trường đại học, tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực sinh viên nông lâm nghiệp để hạ giá thành nhân công.
  • Chỉ rõ tính ưu việt của mô hình liên kết hợp tác xã và mạng lưới hộ nông dân vệ tinh: Trang trại đóng vai trò trung tâm sản xuất bịch phôi nấm, chuyển giao quy trình kỹ thuật nuôi trồng và cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra, giảm thiểu rủi ro cho nông hộ.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý thiết thực: Đầu tư nâng cấp công nghệ hấp khử trùng bịch nấm; áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học đối với sâu bệnh hại (ruồi nấm, mốc cạnh tranh); cải tiến phương pháp hạch toán kinh tế ghi chép sổ sách; đẩy mạnh xúc tiến thương mại nông sản sạch thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kênh thương lái trung gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận và thực tiễn hoạt động tại cơ sở bộc lộ các giới hạn sau:

  • Hạn chế của mô hình thực tế: Cơ sở vật chất kỹ thuật của trang trại còn thiếu đồng bộ, chưa có đủ nguồn vốn để đầu tư các thiết bị công nghệ cao như buồng nuôi cấy vô trùng áp lực dương, hệ thống kho lạnh kiểm soát nhiệt ẩm tự động hay máy đóng bầu phôi nấm; công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch còn thô sơ (chủ yếu là phơi sấy thủ công đối với nấm linh chi và mộc nhĩ); chất lượng lao động thời vụ là sinh viên biến động lớn theo kỳ học; thị trường tiêu thụ nấm ăn tươi biến động thất thường và chịu cạnh tranh gay gắt.
  • Hạn chế của khóa luận: Đề tài thực hiện trong phạm vi một cơ sở điển cứu (case study) với thời gian thực tập 3 tháng (14/08/2017 đến 12/11/2017), chuỗi số liệu theo dõi chi phí - doanh thu chủ yếu tập trung trong năm tài chính 2017 nên chưa phản ánh được chu kỳ biến động thị trường qua nhiều năm liên tục.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu quy trình chế biến sâu các sản phẩm từ nấm dược liệu (trà túi lọc linh chi, cao linh chi); đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chuỗi liên kết giá trị giữa Hợp tác xã Quyết Thắng với toàn bộ mạng lưới hộ vệ tinh tại tỉnh Thái Nguyên.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên các ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Quản lý Trang trại và Trồng trọt: Nguồn tư liệu thực tế phục vụ học phần Kinh tế trang trại, Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp và phương pháp hạch toán chi phí ($GO, IC, VA$).
  • Hộ nông dân, chủ trang trại và cá nhân khởi nghiệp nông nghiệp: Cung cấp sổ tay kỹ thuật chi tiết về tỷ lệ phối trộn nguyên liệu, phương pháp thanh trùng, quy trình ủ mùn cưa và kỹ thuật chăm sóc thu hoạch nấm sò; kinh nghiệm thực tiễn trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức một cấp quản lý gọn nhẹ và cách thức tổ chức mạng lưới nông hộ vệ tinh gắn với bao tiêu sản phẩm.
  • Phần đáng tham khảo nhất là chi tiết các bước kỹ thuật nuôi trồng nấm sò tại mục Công việc 2 và hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế trang trại theo vùng sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

1. Trang trại Phạm Bá Duy được cấp phép hoạt động khi nào và quy mô ban đầu ra sao?
Trang trại hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 17A80016820 do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên cấp ngày 31/07/2009 (đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 04/08/2014), diện tích nhà xưởng ban đầu là 3.000 m2 trên tổng diện tích đất 1 ha.

2. Cơ cấu nhân sự và mô hình quản trị tại trang trại được phân công như thế nào?
Trang trại áp dụng cơ cấu một cấp quản lý, gồm: Chủ trang trại (anh Phạm Bá Duy, Cử nhân kinh tế tài chính) phụ trách quản lý chung và kỹ thuật; Quản lý điều hành (ông Phạm Huy Toàn) trực tiếp giám sát vốn, cơ sở vật chất và nhân công; lực lượng sản xuất trực tiếp gồm 01 lao động gia đình, 04 lao động thuê ngoài cố định cùng sinh viên làm thêm.

3. Tiêu chuẩn kỹ thuật đóng bịch và cấy giống nấm sò tại trang trại quy định ra sao?
Nguyên liệu mùn cưa sau khi ủ nước vôi được đóng vào túi nilon kích thước 30 x 45 cm thành 3 lớp, xen kẽ rắc giống nấm xung quanh thành túi; trọng lượng mỗi bịch đạt 2,4 - 2,7 kg; định mức cấy đạt 16 - 20 bịch trên 1 kg giống nấm.

4. Sau khi cấy giống nấm sò, thời gian ươm và quy cách rạch bịch được thực hiện như thế nào?
Bịch giống được ươm trong nhà thoáng mát từ 20 đến 25 ngày đến khi sợi nấm lan kín đáy bịch. Sau đó tiến hành rạch 6 - 8 đường so le quanh thân bịch với chiều dài mỗi vết rạch từ 5 đến 6 cm.

5. Cơ sở đã có những bước chuyển đổi tổ chức quan trọng nào trong giai đoạn 2014 - 2016?
Năm 2014, cơ sở thành lập Hiệp hội nấm Linh Chi Việt và đạt bình chọn "Sản phẩm chất lượng sạch và an toàn". Đến năm 2016, cơ sở chuyển đổi phát triển thành Hợp tác xã Quyết Thắng với 7 thành viên, hình thành mạng lưới hộ vệ tinh chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm nấm trên địa bàn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Việt Dũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế trang trại và phản ánh chi tiết mô hình tổ chức, sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên. Nghiên cứu đã làm rõ quy trình kỹ thuật sản xuất các loại nấm ăn và nấm dược liệu, đánh giá cơ cấu tổ chức một cấp tinh gọn kết hợp mô hình hợp tác xã liên kết vệ tinh. Các phát hiện và đề xuất giải pháp trong văn bản cung cấp luận cứ thực tiễn thiết thực cho việc nhân rộng mô hình kinh tế trang trại nông nghiệp sạch tại các địa phương trung du miền núi phía Bắc.