Chương 1: Một số lý luận cơ bản về lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh doanh 1. Một số khái niệm cơ bản về lạm phát 1. Quan điểm và khái niệm về lạm phát Lạm phát được để cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế. Trong mỗi công trình của mình, các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm khác nhau về lạm phát.Mac trong bộ tư bản: Lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt.
Ông cho rằng, ngoài giá trị thặng dư, CNTB còn gây ra lạm phát để bóc lột người lao động thêm lần nữa do lạm phát làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống. Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị sự tăng lên trong mức giá chung. Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức giá chung của giá cả và chi phí tăng, giá bánh mỳ, xăng dầu, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”. Còn Milton Friedman thì quan niệm: “Lạm phát là nhanh và kéo dài”.
Ông cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ”. Ý kiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế phái tiền tệ và phái Keynes tán thành. Hiện nay, lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục trong mức giá chung. Điều này không nhất thiết có nghĩa là giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên.
Một nền kinh tế vẫn có thề trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh. Các thước đo lạm phát Đo lường lạm phát trong một nền kinh tế đòi hỏi phải có phương tiện. Mục tiêu của việc phân biệt những thay đổi trong giá danh nghĩa trên một tập hợp chung của hàng hoá và dịch vụ, và phân biệt với những thay đổi giá do những thay đổi trong giá trị như khối lượng, chất lượng hay hiệu suất. Tuy nhiên, sự thay đổi mức giá đơn lẻ này sẽ không đại diện cho lạm phát chung trong một nền kinh tế tổng thể.
Để đo lường lạm phát tổng thể, sự thay đổi giá của một "giỏ" lớn hàng hóa và dịch vụ đại diện được đo. Đây là mục đích của một chỉ số giá, đó là giá kết hợp của một "rổ" nhiều hàng hóa và dịch vụ. Giá kết hợp là tổng giá cả gia quyền của các mặt hàng trong "rổ". Một giá cả gia quyền được tính bằng cách nhân đơn giá của một mặt hàng với số lần mua tiêu dùng trung bình mặt hàng đó.
Giá cả gia quyền là một phương tiện cần thiết để đo lường tác động của các thay đổi đơn giá cụ thể đối với lạm phát tổng thể của nền kinh tế. Những mức giá bình quân gia quyền này được kết hợp để tính toán giá tổng thể. Để 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên hệ tốt hơn các thay đổi giá theo thời gian, chỉ số này thường chọn giá một "năm cơ sở" và gán cho nó một giá trị 100. Chỉ số giá trong những năm tiếp theo sau đó được thể hiện trong mối quan hệ với giá năm cơ sở.
Trong khi so sánh các đo lường lạm phát đối với các thời gian khác nhau người ta cũng phải đi vào xem xét các hiệu ứng cơ bản của lạm phát. Các đo lường lạm phát thường được sửa đổi theo thời gian, hoặc là cho gia quyền tương đối của hàng hóa trong giỏ, hoặc trong cách thức mà hàng hóa và dịch vụ từ hiện tại được so sánh với hàng hóa và dịch vụ trong quá khứ. Theo thời gian, điều chỉnh được thực hiện cho các loại hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn để phản ánh những thay đổi trong các loại hàng hóa, dịch vụ mua của người tiêu dùng điển hình. Sản phẩm mới có thể được giới thiệu, các sản phẩm cũ biến mất, chất lượng sản phẩm hiện tại có thể thay đổi, và sở thích của người tiêu dùng có thể thay đổi.
Cả các loại hàng hóa và dịch vụ được bao gồm trong "rổ" và giá cả gia quyền được sử dụng trong các đo lường lạm phát sẽ được thay đổi theo thời gian để bắt kịp với các thay đổi thị trường. Các con số lạm phát thường điều chỉnh theo mùa để phân biệt các thay đổi giá cả theo chu kỳ dự kiến. Ví dụ, chi phí sưởi ấm nhà dự kiến sẽ tăng trong những tháng lạnh hơn, và điều chỉnh theo mùa thường được sử dụng khi đo lường lạm phát để bù đắp cho các gai nhọn chu kỳ trong nhu cầu năng lượng, nhiên liệu. Các con số lạm phát có thể được tính trung bình hoặc bị các kỹ thuật thống kê loại bỏ nhiễu thống kê và biến động.
của các giá cả cụ thể. Khi xem xét lạm phát, các tổ chức kinh tế có thể chỉ tập trung vào một số loại giá cả, hoặc chỉ số đặc biệt, chẳng hạn như chỉ số lạm phát cơ bản được sử dụng bởi các ngân hàng trung ương để xây dựng chính sách tiền tệ. Hầu hết các chỉ số lạm phát được tính từ trung bình gia quyền của các thay đổi giá cả được lựa chọn. Điều này nhất thiết phải giới thiệu biến dạng, và có thể dẫn đến các tranh chấp mang tính hợp pháp về việc tỷ lệ lạm phát thực sự là bao nhiêu.
Vấn đề này có thể được khắc phục bằng cách bao gồm tất cả các thay đổi về giá có sẵn trong tính toán, và sau đó chọn giá trị trung bình. Trong một số trường hợp khác, các chính phủ có thể cố ý báo cáo sai tỷ lệ lạm phát, ví dụ, chính phủ Argentina đã bị chỉ trích bởi các thao túng dữ liệu kinh tế, chẳng hạn như số liệu lạm phát và GDP, cho lợi ích chính trị và giảm thanh toán của mình trong nợ quốc gia tính theo chỉ số lạm phát.Để đo lường lạm phát, người ta dùng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát. Về mặt tính toán,tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai đoạn, nó có thể là tháng, quý hoặc năm. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê xây dựng 3 chỉ số giá để đo lường: Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng – CPI( Cosummer Price Index ).
CPI là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hóa trong nhiều năm so với chính giá của rổ hàng hóa đó ở một năm nào đó. Thống kê gọi đó là năm cơ sở hay năm gốc. Nghĩa là, rổ hàng hóa được lựa chọn là không thay đổi trong nhiều năm. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng.
Ta có công thức tính chỉ số giá như sau: ∑ p1 q0 Ip = ∑ ip x d hoặc Ip = ∑ p 0 q 0 Trong đó: Ip là chỉ số giá cả chung Ip : là chỉ số giá cá thể của từng loại hàng hóa, nhóm hàng D : là tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại từng nhóm hàng Q1 : là số lượng hàng hóa, dịch vụ ở thời kỳ báo cáo P1 : là giá cả hàng hóa dịch vụ kỳ báo cáo P0 : là giá cả hàng hóa, dịch vụ kỳ gốc Thứ hai là chỉ số điều chỉnh GDP( GDP deflator). Là chỉ số phản ánh giá của một rổ hàng hóa trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm gốc. Ta có công thức tính GDP điều chỉnh như sau: ∑ p1 q1 GDPdeflator = ∑ p0 q1 Thứ ba là chỉ số giá sản xuất – PPI( Producer Price Index). Là chỉ số giá bán buôn, hay chính là chi phí để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.
Như vậy, rổ hàng hóa được lựa chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai đoạn tính toán. Nhưng về cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hóa trong các thời điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của dân chúng thường mang tính ổn định trong ngắn hạn. Chỉ số điều chỉnh GDP là chỉ số có mức bao phủ rộng nhất, nó bao gồm tất cả các hàng hóa dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế và trọng số 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của từng loại hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng. Một số lý thuyết liên quan đến lạm phát và tác động của lạm phát đến hoạt động kinh doanh 1.
Phân loại lạm phát Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Nếu phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế thường phân biệt 4 loại lạm phát: + Thiểu phát: Là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp. Đây là một vấn nạn trong quản lý kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam, nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát.
Không có tiêu chí chính xác tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm một năm trở xuống thì được coi là thiểu phát. Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4 phần trăm một năm trở xuống được gọi là thiểu phát. Tuy nhiên, ở những nước mà cơ quan quản lý tiền tệ (ngân hàng trung ương) rất không ưa lạm phát như Đức và Nhật Bản, thì tỷ lệ lạm phát 3-4 phần trăm một năm được cho là hoàn toàn trung bình, chứ chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát. Ở Việt Nam thời kỳ 2002-2003, tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4 phần trăm một năm, nhưng nhiều nhà kinh tế học Việt Nam cho rằng đây là thiểu phát).
+ Lạm phát thấp: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới 10 phần trăm một năm. + Lạm phát cao: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. + Siêu lạm phát: Là lạm phát “mất kiểm soát”, một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát.