Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Mặc dù nhiều người đồng ý rằng thị trường DNNVV có quy mô và tầm quan trọng đáng kể, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều định nghĩa và cách phân loại khác nhau về thị trường này.
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank),[21] căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Qui mô công ty (người) (USD) (USD) Siêu nhỏ <10 < 100,000 < 100,000 Nhỏ <50 < 3 triệu < 3 triệu Vừa <300 < 15 triệu < 15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < 10.000 Vừa < 1 triệu (< 2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn: Tổng hợp từ World Bank download by : skknchat@gmail.com 6 Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau. Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu euro.
Còn tại Châu Mĩ, cụ thể là nước Mĩ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 35,5 triệu đô la). Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên. Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại một số quốc gia Nhân viên (người) Doanh thu hàng năm Châu Âu < 250 <50 triệu Euro Châu Mĩ <500 (cho phần lớn hoạt động sản <7 triệu USD (đối với đa số các Hoa Kỳ xuất và khai thác) ngành không liên quan tới sản xuất, mức tối đa là 35,5 triệu đô la) Canada <250 <50 triệu CAD Mexico <500 trong hoạt động sản xuất <50 trong hoạt động dịch vụ Châu Phi Nam Phi <200 <50 triệu ZAR Châu Á Thái Lan <200 <200 triệu Bạt (ngành sử dụng nhiều lao động) <100 (ngành sử dụng nhiều vốn) HongKong <100 (ngành sản xuất) < 50 (ngành phi sản xuất) Nguồn: IFC, 2009 [7] download by : skknchat@gmail.com 7 Tại Thái Lan, việc phân loại các doanh nghiệp được đưa ra một cách chi tiết và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Các thông số quan trọng được sử dụng là số lượng nhân công, tài sản cố định và ngành hàng kinh doanh. Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ thuộc ngành sản xuất có số lượng công nhân dưới 50 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, các doanh nghiệp vừa thì có số lượng công nhân từ 51-200 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt; đối với lĩnh vực bán buôn thì doanh nghiệp nhỏ có số lượng công nhân dưới 25 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, doanh nghiệp vừa có số lượng công nhân từ 26-50 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt. Từ các tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank và ở một số quốc gia trên thế giới, chúng ta thấy rằng DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chí để xác định DNNVV có khác nhau.
Tuy nhiên, phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên; Số lượng vốn góp; Doanh thu hàng năm; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh. Đây là các tiêu chí cơ bản để xác định DNNVV tại mỗi quốc gia và cũng là những tiêu chí có tính định hướng để luận án làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở Việt Nam. Tại Việt Nam tại nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam, DNNVV lại được định nghĩa:[22] “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). download by : skknchat@gmail.3: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động Số lao động nguồn vốn động vốn I- Nông, Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng lâm nghiệp người đến đồng đến 100 người đến xuống trở xuống và thuỷ sản 200 người tỷ đồng 300 người II- Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến xuống trở xuống xây dựng 200 người tỷ đồng 300 người III- Thương Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 10 người trở 10 tỷ đồng mại và người đến đồng đến 50 người đến xuống trở xuống dịch vụ 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Về quy mô: được phân thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau:[7] download by : skknchat@gmail.com 9 Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của doanh nghiệp là tương đối nhỏ.
Điều này mang lại một số lợi thế cho DNNVV như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh. Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại. Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNNVV bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Các DNNVV thường không đạt được lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn.
Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các ngân hàng cũng như từ thị trường chứng khoán. Vì vậy, các DNNVV phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Đối với các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nguồn tài trợ này cũng không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp do hạn chế về thủ tục vay vốn đối với ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản bảo đảm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng… Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô nhỏ, có khả năng tập dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại trong địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
download by : skknchat@gmail.com 10 Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệnh ra sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất kỳ một doanh nghiệp nào nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém.
Hệ quả là các DNNVV thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ.