Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Long Xuyên, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh An Giang, đang đối mặt với sức ép môi trường ngày càng lớn khi tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh ước tính khoảng 72.959 tấn mỗi năm (tương đương 231,22 tấn mỗi ngày), với tốc độ gia tăng bình quân 1,08% hàng năm. Tốc độ đô thị hóa nhanh của một đô thị loại I bên bờ sông Hậu kéo theo sự gia tăng áp lực rác thải lên hệ thống 191 tuyến kênh, rạch có tổng chiều dài 264.623m, gây nguy cơ suy thoái chất lượng nước mặt và ô nhiễm cảnh quan sinh thái nghiêm trọng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách công, đánh giá toàn diện thực trạng triển khai các chính sách xử lý rác thải sinh hoạt đô thị tại 11 phường và 2 xã thuộc thành phố Long Xuyên trong giai đoạn 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020. Luận văn tập trung phát hiện những khoảng cách giữa văn bản quy phạm và thực tiễn thi hành, làm rõ nguyên nhân của các điểm nghẽn trong công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và chôn lấp.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế quản lý, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt đô thị đạt trên 95% và hạ tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 30% theo định hướng tại Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết chu trình chính sách công của Thomas Dye và B. Guy Peters, kết hợp lý luận thực thi chính sách bảo vệ môi trường cấp địa phương thông qua quy trình 6 bước chuẩn hóa: xây dựng kế hoạch triển khai; phổ biến và tuyên truyền; phân công phối hợp; duy trì chính sách; theo dõi, kiểm tra và đôn đốc; đánh giá và tổng kết rút kinh nghiệm. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle - PPP) cùng mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn theo định hướng 3R (Giảm thiểu - Tái sử dụng - Tái chế).

Các khái niệm then chốt được làm rõ gồm:

  • Chính sách công: Định hướng, giải pháp của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đô thị theo Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
  • Chất thải rắn sinh hoạt đô thị: Toàn bộ các vật chất ở thể rắn phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư theo Luật Bảo vệ môi trường.
  • Thực hiện chính sách xử lý rác thải: Quá trình chuyển hóa ý chí quản lý nhà nước thành kết quả thu gom, xử lý thực tế với sự tham gia của các tổ chức xã hội và người dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Long Xuyên, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị An Giang trong giai đoạn 2016-2020. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật đánh giá nhanh hiện trường và khảo sát thực tế.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 120 hộ gia đình và tiểu thương chợ, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho 2 khu vực: nội ô (phường Mỹ Long, Mỹ Bình) và vùng ven, cù lao (xã Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Khánh). Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 15 chuyên gia và cán bộ quản lý môi trường cấp tỉnh, thành phố và phường, xã.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả định lượng và phân tích diễn giải định tính. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là nhằm đối chiếu khách quan giữa các chỉ tiêu văn bản chính sách và năng lực vận hành thực tế ngoài hiện trường. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý thông tin được hoàn thành trong giai đoạn 2020-2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố trung bình đạt 231,22 tấn/ngày, trong đó lượng thu gom đạt 207,69 tấn/ngày (tương đương 89,8%), còn khoảng 23,53 tấn/ngày (chiếm 10,2%) chưa được thu gom hợp vệ sinh, chủ yếu do người dân tự chôn lấp, đốt thủ công hoặc xả trực tiếp ra kênh rạch.

Tỷ lệ tham gia dịch vụ thu gom của hộ gia đình đạt mức bình quân 77,27%, trong khi 17,21% số hộ tự xử lý và 5,52% hộ chưa thực hiện xử lý rác đúng quy định. Có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực: tỷ lệ thu gom tại phường nội ô như Mỹ Bình và Mỹ Long đạt 100%, phường Bình Khánh đạt 99%, nhưng tại các xã ngoại thành và cù lao như xã Mỹ Hòa Hưng tỷ lệ này chỉ đạt 35,5%, và phường Mỹ Hòa chỉ thu gom được 4,11 trên tổng số 9,44 tấn rác phát sinh mỗi ngày.

Thành phần rác thải chứa tỷ trọng chất hữu cơ rất cao, chiếm 73,5% tổng khối lượng (khoảng 53.621 tấn/năm), rác tái chế chiếm 5,45%, còn lại là tạp chất khó phân hủy. Tại các chợ truyền thống như chợ Long Xuyên, rác hữu cơ chiếm tới 89,5% (16.014 kg/ngày), nhưng hầu hết chưa được tách riêng để sản xuất phân hữu cơ mà vẫn bị đem chôn lấp toàn bộ.

Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phục vụ công tác vệ sinh môi trường còn thiếu thốn và xuống cấp. Toàn thành phố chỉ có 11 xe ép rác chuyên dùng, 558 thùng rác công cộng và 77 xe đẩy tay bằng gỗ của các tổ tự quản. Lực lượng thu gom rác dân lập hoạt động tự phát, chưa được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động và chưa có chế độ bảo hiểm y tế.

Thảo luận kết quả

Các kết quả định lượng có thể được trực quan hóa qua bảng ma trận so sánh tỷ lệ thu gom giữa 13 phường, xã và biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thành phần chất thải (73,5% rác hữu cơ, 5,45% rác tái chế và 21,05% chất thải khác). Việc trình bày này giúp nhận diện rõ ranh giới ô nhiễm cục bộ tại các khu vực ven sông.

Nguyên nhân của việc thực hiện chính sách chưa đạt mục tiêu đề ra bắt nguồn từ cả yếu tố chủ quan và khách quan:

  • Cơ chế tài chính: Mức thu phí vệ sinh theo Quyết định số 94/2016/QĐ-UBND chưa bù đắp được chi phí vận chuyển, xử lý thực tế, khiến ngân sách thành phố phải bù lỗ lớn.
  • Hạ tầng đô thị: Địa hình sông rạch chia cắt phức tạp với 191 tuyến kênh, kết hợp ngập triều cường định kỳ làm gián đoạn lộ trình thu gom của xe chuyên dùng.
  • Ý thức cộng đồng: Thói quen sử dụng túi nilon dùng một lần và vứt rác xuống lòng sông vẫn còn phổ biến ở khu vực nông thôn.

So sánh với mô hình nhà máy đốt rác phát điện Cần Thơ (công suất 400 tấn/ngày) hay kinh nghiệm hợp tác với thành phố Växjö (Thụy Điển), Long Xuyên vẫn đang phụ thuộc hoàn toàn vào bãi chôn lấp Bình Hòa tại huyện Châu Thành. Điều này cho thấy sự chậm trễ trong chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải theo hướng thu hồi năng lượng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đầu tư nâng cấp hạ tầng thu gom và phương tiện chuyên dụng: Mua sắm bổ sung 390 thùng rác composite 240 lít và thay thế 35 xe gom rác đẩy tay kín chống rò rỉ nước rỉ rác; phấn đấu nâng tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt toàn thành phố đạt trên 95% trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: UBND thành phố Long Xuyên chủ trì, phối hợp Phòng Quản lý Đô thị và Phòng Tài nguyên và Môi trường.
  2. Chuyển đổi công nghệ xử lý từ chôn lấp sang đốt rác phát điện và ủ phân hữu cơ: Đẩy nhanh tiến độ lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án nhà máy xử lý rác theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại khu liên hợp Bình Hòa, nhằm giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 20% vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: UBND tỉnh An Giang phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài nguyên và Môi trường.
  3. Hoàn thiện chính sách giá dịch vụ và bảo trợ lao động thu gom dân lập: Ban hành đề án giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải mới theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ dựa trên khối lượng xả thải; hỗ trợ 100% chi phí trang bị bảo hộ lao động và mua bảo hiểm y tế cho công nhân thuộc các tổ tự quản môi trường trong giai đoạn 2022-2023. Chủ thể thực hiện: Sở Tài chính, UBND thành phố Long Xuyên và Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị An Giang.
  4. Đẩy mạnh phân loại rác tại nguồn và chế tài xử lý vi phạm: Triển khai nhân rộng đề án phân loại rác tại nguồn giai đoạn 2021-2025 theo Kế hoạch số 382/KH-UBND; lắp đặt hệ thống camera giám sát và áp dụng mức xử phạt vi phạm hành chính nghiêm minh theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đối với các hành vi xả rác bừa bãi xuống 191 tuyến kênh, rạch. Chủ thể thực hiện: UBND 11 phường, 2 xã phối hợp Công an thành phố và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang, UBND thành phố Long Xuyên và các phòng ban chuyên môn có thể sử dụng các số liệu thực tế về khối lượng phát sinh (231,22 tấn/ngày) và hiện trạng thu gom để xây dựng quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị giai đoạn 2021-2030.
  • Doanh nghiệp dịch vụ môi trường và các nhà đầu tư PPP: Các đơn vị xử lý chất thải có thể khai thác dữ liệu về thành phần hữu cơ (73,5%) và rác chợ (gần 18 tấn/ngày tại chợ Long Xuyên) để lập dự án khả thi đầu tư nhà máy sản xuất phân hữu cơ vi sinh và nhà máy điện rác.
  • Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá thực thi chính sách quản lý môi trường tại các đô thị sông nước Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới hành động vì môi trường: Ban điều hành các dự án hợp tác quốc tế có thể tham khảo bài học thực tiễn từ chương trình hợp tác giữa An Giang và thành phố Växjö (Thụy Điển) để thiết kế các chiến dịch truyền thông phân loại rác tại nguồn hiệu quả hơn.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại thành phố Long Xuyên là bao nhiêu? Theo số liệu thống kê trong luận văn, thành phố Long Xuyên phát sinh trung bình khoảng 231,22 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày (tương đương 72.959 tấn/năm). Trong đó, khối lượng được thu gom đạt 207,69 tấn/ngày, còn lại khoảng 23,53 tấn/ngày chưa được thu gom xử lý đúng quy chuẩn vệ sinh môi trường.

Thành phần rác thải sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên có đặc điểm gì nổi bật? Chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương có tỷ lệ chất hữu cơ chiếm đa số với 73,5% tổng khối lượng (khoảng 53.621 tấn/năm), rác tái chế chiếm 5,45%, phần còn lại là tạp chất khó phân hủy. Tại các chợ đầu mối như chợ Long Xuyên, rác hữu cơ từ phế phẩm nông sản chiếm tỷ trọng lên đến 89,5%.

Tại sao tỷ lệ thu gom rác ở khu vực ngoại thành Long Xuyên lại thấp hơn nhiều so với nội ô? Khu vực nội ô như phường Mỹ Long đạt tỷ lệ thu gom 100% nhờ hệ thống đường sá hoàn chỉnh. Ngược lại, khu vực cù lao như xã Mỹ Hòa Hưng chỉ đạt tỷ lệ thu gom 35,5% do mạng lưới kênh rạch chia cắt, đường giao thông nhỏ hẹp xe ép rác lớn không tiếp cận được, phụ thuộc chủ yếu vào tổ tự quản thô sơ.

Chương trình hợp tác với thành phố Växjö của Thụy Điển đã đóng góp gì cho công tác quản lý rác tại địa phương? Dự án hợp tác đã hỗ trợ xây dựng Kế hoạch hành động quản lý chất thải rắn cho thành phố Long Xuyên giai đoạn 2017-2022 theo Quyết định số 2931/QĐ-UBND, triển khai các mô hình truyền thông thí điểm về phân loại rác tại nguồn và kỹ thuật ủ phân compost tại phường Mỹ Long và xã Mỹ Hòa Hưng.

Luận văn đề xuất giải pháp kỹ thuật nào để giảm thiểu áp lực cho bãi rác Bình Hòa? Nghiên cứu kiến nghị chính quyền địa phương cần chuyển dịch mạnh mẽ từ công nghệ chôn lấp truyền thống sang hình thức đầu tư PPP xây dựng nhà máy đốt chất thải rắn sinh hoạt thu hồi năng lượng kết hợp dây chuyền sản xuất phân bón vi sinh, phấn đấu hạ tỷ lệ chôn lấp rác sau xử lý xuống dưới mức 20%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách xử lý 231,22 tấn rác thải/ngày tại 13 đơn vị hành chính của thành phố Long Xuyên.
  • Chỉ rõ khoảng cách thu gom giữa khu vực nội ô (đạt 100%) và khu vực cù lao, ngoại thành (chỉ đạt 35,5%).
  • Phát hiện sự lãng phí tài nguyên lớn khi 73,5% chất thải hữu cơ chưa được tận dụng để tái chế phân bón mà chủ yếu đem đi chôn lấp.
  • Vận dụng thành công khung lý thuyết chu trình chính sách 6 bước để phân tích nguyên nhân bất cập về thể chế, hạ tầng và tài chính môi trường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật công nghệ, cơ chế giá dịch vụ, trang thiết bị và chế tài pháp lý.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Quốc Dũng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn trực tiếp cho công tác hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường tại tỉnh An Giang. Trong giai đoạn 2022-2025, thành phố Long Xuyên cần khẩn trương hiện đại hóa đội ngũ thu gom dân lập và đưa nhà máy xử lý rác công nghệ cao vào vận hành. Quý độc giả và các nhà quản lý quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại hệ thống thư viện của Học viện Khoa học Xã hội để áp dụng các khuyến nghị vào thực tế địa phương.