Luận văn: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện tại An Giang

Nghiên cứu luận văn về đào tạo, nâng cao năng lực cho nhân lực thanh tra cấp huyện tại An Giang. Phân tích thực trạng và giải pháp.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra

Yếu tố con người được xem là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị và cũng là trung tâm của sự phát triển. Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) trong sạch, vững mạnh. Trong đó, việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện giữ một vai trò then chốt. Ngành Thanh tra, với vai trò là “tai mắt của trên, là người bạn của dưới”, đòi hỏi một đội ngũ nhân sự không chỉ vững về chuyên môn mà còn phải có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị. Hoạt động thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo quy định pháp luật đối với việc thực hiện chính sách của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Do đó, chất lượng đội ngũ nhân lực thanh tra ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Công tác đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) là yếu tố chủ yếu và dễ áp dụng nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ này. Một chính sách ĐTBD hiệu quả giúp trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc, giúp CBCC thanh tra thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao. Nó không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức mà còn là công cụ để chuẩn hóa đội ngũ, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chính sách này là tổng thể các quan điểm, quyết định, quy định của Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực thanh tra có đủ trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, như tác giả Phạm Thị Thoan đã nêu trong nghiên cứu năm 2017.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của nhân lực ngành Thanh tra

Nhân lực ngành Thanh tra là những công chức làm việc trong các cơ quan thanh tra nhà nước, bao gồm các ngạch thanh tra viên và các công chức khác. Theo Luật Thanh tra 2010, Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. So với công chức nói chung, nhân lực thanh tra, đặc biệt là thanh tra viên, có những đặc điểm riêng biệt, chỉ có trong các cơ quan thanh tra nhà nước và được trao những quyền hạn nhất định theo quy định của pháp luật. Vai trò của họ thể hiện rõ trong bốn lĩnh vực chính: công tác thanh tra, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng, chống tham nhũng. Họ là lực lượng nòng cốt giúp các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng giám sát, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

1.2. Sự cần thiết của chính sách đào tạo bồi dưỡng CBCC Thanh tra

Việc đẩy mạnh chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện là yêu cầu cấp thiết xuất phát từ nhiều lý do. Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của ĐTBD trong việc nâng cao năng lực thực thi công vụ. Để thực hiện nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật tại các cơ quan chuyên môn và UBND cấp xã, CBCC Thanh tra cần được trang bị kiến thức, kỹ năng toàn diện. Thứ hai, xuất phát từ thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC Thanh tra cấp huyện hiện nay. Mặc dù đã có nhiều cải thiện, hoạt động của cơ quan thanh tra cấp huyện vẫn chưa theo kịp yêu cầu ngày càng cao của quản lý nhà nước. Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu của “Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, đòi hỏi ngành phải đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu lực hoạt động để phù hợp với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Do đó, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác ĐTBD là yếu tố quan trọng để xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp, vững mạnh.

II. Đánh giá thực trạng chính sách đào tạo bồi dưỡng ở An Giang

Tỉnh An Giang, với đặc điểm là tỉnh biên giới thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý, kinh tế - xã hội đặc thù. Điều này tác động không nhỏ đến việc triển khai chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện. Giai đoạn 2015-2020, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế, an ninh quốc phòng được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ĐTBD cho nhân lực thanh tra vẫn còn nhiều tồn tại. Một phân tích về thực trạng đội ngũ cho thấy, mặc dù trình độ chuyên môn của đa số CBCC thanh tra đã đạt chuẩn (91,78% có trình độ đại học), nhưng chất lượng chưa đồng đều. Nhân lực mới được đào tạo tuy có trình độ nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Ngược lại, đội ngũ có kinh nghiệm lại có thể chưa cập nhật kịp các kiến thức, kỹ năng mới. Bên cạnh đó, các hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách cũng được chỉ ra. Công tác quy hoạch, lựa chọn CBCC đi học đôi khi chưa khoa học. Một số CBCC còn tâm lý e ngại tham gia ĐTBD hoặc tham gia với tư tưởng đối phó. Hệ thống chính sách về ĐTBD tuy đã được ban hành nhưng chưa thực sự đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả cuối cùng của công tác này. Việc khảo sát thực tế tại An Giang cho thấy sự cần thiết phải có những đánh giá khách quan để tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp phù hợp.

2.1. Đặc điểm đội ngũ CBCC Thanh tra cấp huyện tỉnh An Giang

Theo kết quả khảo sát trên 73 cán bộ công chức tại 11 đơn vị Thanh tra cấp huyện tỉnh An Giang, cơ cấu nhân lực có những đặc điểm nổi bật. Về giới tính, tỷ lệ nam (67,12%) cao hơn nữ (32,88%). Về độ tuổi, lực lượng trong độ tuổi 35-44 chiếm tỷ lệ cao nhất (47,95%), cho thấy sự kết hợp giữa kinh nghiệm và sức trẻ. Về trình độ chuyên môn, 91,78% có trình độ đại học và 5,48% có trình độ thạc sĩ. Về lý luận chính trị, 52,05% có trình độ trung cấp và 28,77% có trình độ cao cấp. Về nghiệp vụ thanh tra, vẫn còn 10,95% CBCC chưa qua đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên. Những con số này cho thấy nền tảng trình độ của đội ngũ là khá tốt, nhưng vẫn còn khoảng trống cần được lấp đầy thông qua các chương trình đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu và chuẩn hóa.

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong công tác đào tạo bồi dưỡng

Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyệnAn Giang còn bộc lộ nhiều bất cập. Thứ nhất, chất lượng đội ngũ nhân lực thanh tra chưa đồng đều, trình độ năng lực đôi khi chưa tương xứng với văn bằng. Thiếu nhân lực có chuyên môn sâu và kinh nghiệm để kế thừa. Thứ hai, việc tổ chức triển khai chính sách còn hạn chế: công tác quy hoạch và lựa chọn CBCC cử đi học chưa hợp lý; một số CBCC còn tâm lý đối phó, học để lấy bằng, chứng chỉ. Thứ ba, hệ thống chính sách chưa thật sự đồng bộ và hấp dẫn. Như nghiên cứu của Đặng Thị Bích Nguyệt (2014) đã chỉ ra, việc xác định nhu cầu ĐTBD chưa được thực hiện thường xuyên, nội dung đào tạo còn trùng lắp, chậm cập nhật. Đây là những thách thức lớn cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả chính sách.

III. Top phương pháp đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra hiệu quả

Để nâng cao chất lượng nhân lực thanh tra cấp huyện, việc áp dụng các nội dung và phương pháp đào tạo phù hợp là yếu tố quyết định. Một chính sách đào tạo bồi dưỡng hiệu quả phải được xây dựng trên một hệ thống nội dung toàn diện và các hình thức tổ chức linh hoạt. Nội dung ĐTBD không chỉ giới hạn ở kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà cần bao quát cả lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng về hội nhập quốc tế, đạo đức công vụ, ngoại ngữ và tin học. Theo Nghị định 101/2017/NĐ-CP, nội dung ĐTBD phải được thiết kế để trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp cán bộ công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ. Về hình thức, việc kết hợp giữa đào tạo tập trung, bán tập trung (vừa học vừa làm) và học tập từ xa cho phép đáp ứng nhu cầu đa dạng của các đối tượng học viên. Phương pháp giảng dạy cũng cần được đổi mới theo hướng tích cực, tăng cường tương tác, gắn lý luận với thực tiễn. Thay vì truyền thụ một chiều, giảng viên cần đóng vai trò người dẫn dắt, khơi gợi tư duy sáng tạo, tổ chức thảo luận, giải quyết các tình huống thực tế trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Sự thành công của chính sách phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn và kết hợp hài hòa các yếu tố này, đảm bảo chương trình học vừa thiết thực vừa hiệu quả.

3.1. Nội dung cốt lõi trong đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên

Nội dung đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức thanh tra được quy định cụ thể, bao gồm các mảng chính. Thứ nhất là lý luận chính trị, gồm các chương trình từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp, giúp CBCC nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng. Thứ hai là chuyên môn nghiệp vụ, bao gồm các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, và các chương trình đào tạo sau đại học. Nội dung này trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên sâu để thực hiện công tác thanh tra. Thứ ba là kiến thức quản lý nhà nước, giúp CBCC hiểu rõ về nền hành chính và phương pháp quản lý. Cuối cùng là các chương trình bồi dưỡng khác như tin học, ngoại ngữ, kiến thức bổ trợ để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Việc xây dựng nội dung phải bám sát thực tế, hướng vào những vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ.

3.2. Các hình thức bồi dưỡng đa dạng cho cán bộ công chức

Để phù hợp với điều kiện và đối tượng khác nhau, các khóa đào tạo bồi dưỡng được tổ chức dưới nhiều hình thức. Đào tạo tập trung yêu cầu học viên học toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, thường áp dụng cho các lớp trung cấp lý luận chính trị hoặc nghiệp vụ chuyên sâu. Đào tạo bán tập trung (vừa học, vừa làm) là hình thức phổ biến, cho phép CBCC vừa duy trì công việc tại cơ quan, vừa tham gia học tập vào buổi tối hoặc cuối tuần. Ngoài ra, hình thức bồi dưỡng ngắn ngày (từ 1-10 ngày) thường được áp dụng để cập nhật kiến thức mới, kỹ năng nghiệp vụ. Gần đây, hình thức học tập từ xa cũng bắt đầu được áp dụng. Việc lựa chọn hình thức phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu khóa học, đối tượng học viên và điều kiện cụ thể của địa phương, nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng ĐTBD.

IV. Quy trình thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cấp huyện

Việc thực thi một chính sách đào tạo bồi dưỡng không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản mà đòi hỏi một quy trình tổ chức khoa học và chặt chẽ. Quy trình này bao gồm nhiều bước, từ khâu hoạch định đến khi tổng kết, đánh giá. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết. Kế hoạch này phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung, nguồn lực và thời gian thực hiện. Tại An Giang, công tác này được thực hiện hàng năm dựa trên sự tham mưu của Sở Nội vụ và các cơ quan liên quan. Sau khi có kế hoạch, công tác phổ biến và tuyên truyền chính sách cần được đẩy mạnh để mọi cán bộ công chức và đơn vị quản lý hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, từ đó tự giác và có trách nhiệm tham gia. Bước tiếp theo là phân công, phối hợp thực hiện giữa các cơ quan như Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Thanh tra tỉnh và UBND các huyện. Sự phối hợp nhịp nhàng là yếuota's' quyết định sự thành công của chính sách. Trong suốt quá trình, việc đôn đốc, theo dõi và điều chỉnh chính sách khi cần thiết là hoạt động không thể thiếu. Cuối cùng, tổng kết và đánh giá giúp rút ra những bài học kinh nghiệm, làm cơ sở để hoàn thiện chính sách cho những giai đoạn tiếp theo, đảm bảo hiệu quả chính sách ngày càng được nâng cao.

4.1. Từ xây dựng kế hoạch đến tuyên truyền chính sách hiệu quả

Xây dựng kế hoạch là bước khởi đầu, định hình toàn bộ quá trình thực hiện chính sách. Kế hoạch phải được xây dựng dựa trên khảo sát nhu cầu thực tế của các đơn vị và cá nhân, gắn với quy hoạch cán bộ. Tại An Giang, UBND tỉnh ban hành kế hoạch ĐTBD hàng năm dựa trên tổng hợp từ các địa phương. Sau khi kế hoạch được phê duyệt, công tác phổ biến, tuyên truyền được triển khai qua nhiều hình thức: tập huấn, đăng tải trên cổng thông tin điện tử, gửi văn bản trực tiếp đến các đơn vị. Mục đích là để các đối tượng thụ hưởng chính sách, đặc biệt là nhân lực thanh tra cấp huyện, hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó chủ động đăng ký và tham gia một cách tích cực. Tuyên truyền hiệu quả giúp tạo sự đồng thuận và tự giác trong toàn hệ thống.

4.2. Phối hợp thực hiện theo dõi và đánh giá chính sách

Sự thành công của chính sách phụ thuộc lớn vào cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan. Tại An Giang, Sở Nội vụ đóng vai trò chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Thanh tra tỉnh, Sở Tài chính và UBND cấp huyện. Mỗi cơ quan có trách nhiệm cụ thể, từ tham mưu, tổng hợp nhu cầu, bố trí kinh phí đến tổ chức lớp học. Hoạt động theo dõi, đôn đốc được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo chính sách được triển khai đúng tiến độ và mục tiêu. Cuối mỗi giai đoạn, công tác tổng kết, đánh giá được tiến hành để rút kinh nghiệm. Đây là bước quan trọng để nhìn nhận những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó có những điều chỉnh kịp thời, chẳng hạn như việc HĐND tỉnh An Giang ban hành các Nghị quyết sửa đổi, bổ sung chế độ trợ cấp ĐTBD để khuyến khích CBCC tham gia học tập.

V. Kết quả thực hiện chính sách đào tạo thanh tra tại An Giang

Giai đoạn 2015-2020, việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện tại tỉnh An Giang đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Công tác này luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp. Kết quả cụ thể được thể hiện qua việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức trên nhiều phương diện. Về lý luận chính trị, đã có 05 người tham gia lớp cao cấp và 11 người tham gia lớp trung cấp. Về chuyên môn nghiệp vụ, 07 người được cử đi đào tạo sau đại học trình độ thạc sĩ và hàng chục lượt người tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên, thanh tra viên chính. Về kiến thức quản lý nhà nước, 20 người đã tham gia lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính và 15 người tham gia lớp ngạch chuyên viên. Những con số này cho thấy sự đầu tư nghiêm túc của tỉnh vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đa số CBCC thanh tra cấp huyện sau khi được đào tạo đã phát huy tốt hơn năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nguồn lực tài chính, chất lượng cơ sở đào tạo, và đặc biệt là nhận thức của cả đơn vị quản lý và bản thân người đi học. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp tìm ra các giải pháp tối ưu hơn trong tương lai.

5.1. Phân tích kết quả đào tạo về chuyên môn và lý luận chính trị

Kết quả cụ thể của chính sách đào tạo bồi dưỡng tại An Giang cho thấy sự chuyển biến tích cực về chất lượng đội ngũ. Trong 5 năm, việc cử cán bộ tham gia các lớp lý luận chính trị cao cấp và trung cấp đã góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng cho đội ngũ nhân lực thanh tra. Về chuyên môn, việc đào tạo 7 thạc sĩ và gần 50 lượt bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đã trực tiếp nâng cao năng lực xử lý công việc, đặc biệt trong các lĩnh vực phức tạp như giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng. Hầu hết cán bộ công chức sau khi tham gia đào tạo đều được trang bị thêm kiến thức mới, kỹ năng thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng thực thi công vụ tại địa phương.

5.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách đào tạo

Hiệu quả chính sách ĐTBD chịu tác động của nhiều yếu tố. Yếu tố nguồn lực là quan trọng hàng đầu, bao gồm thể chế chính sách, ngân sách nhà nước, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Một thể chế phù hợp sẽ tạo động lực, trong khi ngân sách đảm bảo cho việc triển khai. Chất lượng giảng viên và giáo trình tác động trực tiếp đến khả năng tiếp thu của học viên. Yếu tố đặc thù của ngành Thanh tra đòi hỏi nội dung đào tạo phải chuyên sâu và thực tiễn. Năng lực của chủ thể thực hiện chính sách, từ cấp tỉnh đến cấp huyện, quyết định chất lượng tổ chức. Cuối cùng, nhận thức của đơn vị quản lý và của chính CBCC tham gia là yếu tố then chốt. Nhận thức đúng đắn sẽ dẫn đến thái độ học tập nghiêm túc và mục tiêu rõ ràng, từ đó quyết định kết quả cuối cùng của quá trình ĐTBD.

VI. Hướng dẫn giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo bồi dưỡng

Để nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyệnAn Giang trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Các giải pháp này cần tập trung vào việc khắc phục những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra trong thực tiễn. Trước hết, cần hoàn thiện về thể chế chính sách, đảm bảo tính đồng bộ, hấp dẫn và phù hợp với thực tế. Cần có cơ chế khuyến khích, động viên rõ ràng hơn, đồng thời gắn kết quả ĐTBD với công tác quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ. Tiếp theo, cần tăng cường nguồn lực cho công tác ĐTBD, bao gồm cả ngân sách, cơ sở vật chất và đặc biệt là chất lượng đội ngũ giảng viên. Nâng cao năng lực của các chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách cũng là một yêu cầu cấp thiết. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo quyết liệt hơn từ cấp trên và sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan liên quan. Quan trọng nhất là phải đổi mới căn bản về nội dung, chương trình và phương pháp ĐTBD. Nội dung cần được cập nhật thường xuyên, bám sát yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ thụ động sang chủ động, tăng cường thực hành và giải quyết tình huống. Cuối cùng, cần chú trọng công tác đánh giá sau đào tạo để đo lường hiệu quả thực chất và có những điều chỉnh kịp thời.

6.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế và tăng cường nguồn lực

Để chính sách đào tạo bồi dưỡng đi vào thực chất, cần ưu tiên hoàn thiện về thể chế. Cần rà soát, sửa đổi các quy định về chế độ, chính sách hỗ trợ cho CBCC đi học để tạo động lực mạnh mẽ hơn. Đồng thời, cần xây dựng quy định rõ ràng về việc gắn kết quả học tập với việc bố trí, sử dụng cán bộ sau đào tạo. Về nguồn lực, tỉnh An Giang cần đảm bảo phân bổ ngân sách hợp lý và đủ cho công tác ĐTBD hàng năm. Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần khuyến khích xã hội hóa, tìm kiếm các nguồn tài trợ hợp pháp khác. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo tại địa phương và xây dựng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chất lượng cao là những bước đi cần thiết để nâng cao chất lượng đầu ra của các chương trình ĐTBD.

6.2. Đổi mới nội dung phương pháp và công tác đánh giá

Một trong những giải pháp đột phá là phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp ĐTBD. Cần thực hiện khảo sát, xác định đúng nhu cầu đào tạo của từng vị trí việc làm để xây dựng chương trình phù hợp, tránh trùng lắp, dàn trải. Nội dung phải cập nhật kiến thức mới, kỹ năng cần thiết trong bối cảnh cải cách hành chính và hội nhập. Phương pháp giảng dạy phải phát huy tính tích cực, chủ động của học viên, tăng cường thảo luận, thực hành. Đặc biệt, cần chú trọng đến công tác đánh giá sau ĐTBD. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở kết quả thi cuối khóa mà cần theo dõi sự thay đổi, tiến bộ của cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ sau khi được đào tạo. Kết quả đánh giá này là thước đo chính xác nhất về hiệu quả chính sách và là cơ sở để cải tiến cho các khóa học tiếp theo.

05/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện ở tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nhân lực ngành Thanh tra 1. Khái niệm cán bộ, công chức Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [29, tr. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [31, tr.

Theo khái niệm trên, cán bộ là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh và cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ, có nghĩa là việc bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh trong khoảng thời gian nhất định. Đối với công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan, có nghĩa là người đó phải qua thi tuyển, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh, có quyết định tuyển dụng và quyết định bổ nhiệm vào ngạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: chuyên viên, Thanh tra viên… 10 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nhân lực nói chung và phát triển nhân lực ngành Thanh tra nói riêng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên có ý nghĩa quan trọng góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng công tác và hiệu quả làm việc của CBCC [3, tr.

Theo từ điển Tiếng Việt “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm” [59, tr. Đào tạo CBCC là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho CBCC phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc được giao có chất lượng, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC thực hiện [16, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, Tập 1: Đào tạo là “quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận được một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [17, tr. Trong khi đó, theo Phạm Thị Hiền Thảo (2016) cho rằng đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng phù hợp nhất định; bên cạnh đó bồi dưỡng được hiểu là quá trình gia tăng, bổ sung, cập nhật thêm những kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất nghề nghiệp nhằm giúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Đào tạo bồi dưỡng CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao [40, tr. 11 Đào tạo, bồi dưỡng CBCC Thanh tra là hoạt động nhằm tổ chức truyền tải kiến thức, kỹ năng đến với CBCC Thanh tra góp phần xây dựng, phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực của đội ngũ CBCCC Thanh tra. Thông qua công tác ĐTBD CBCC Thanh tra được nâng cao kiến thức về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao được hiệu quả [37, tr. Như vậy, có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận được một công việc nhất định; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ giúp CBCC thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Tuy đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm độc lập, nhưng đều nhằm mục đích chung là làm cho người được ĐTBD có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn. Thực tế có một số hoạt động ĐTBD rất khó phân chia ranh giới một cách rạch ròi. Để thực hiện nhiệm vụ, mỗi CBCC Thanh tra cần phải được trang bị kiến thức cơ bản về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ và thường xuyên được cập nhật thông tin liên quan đến hoạt động của ngành, lĩnh vực mà mình công tác. Để đáp ứng yêu cầu đó, công tác ĐTBD được sử dụng như một cầu nối để thực hiện có kế hoạch quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức, kỹ năng đến CBCC thanh tra.

Từ phân tích trên, trong khuôn khổ đề tài học viên sử dụng thống nhất khái niệm ĐTBD để chỉ một công chức tham gia một khóa học để nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong thực thi công vụ, nhiệm vụ không kể thời gian dài hay ngắn. Khái niệm về chính sách công Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, sử dụng quyền lực do nhân dân trao quyền nhằm quản lý xã hội, phục vụ sự phát triển chung của đất nước. Nhà nước sử dụng nhiều công cụ nhằm thực hiện chức năng của mình trong đó một công cụ quan trọng chính là chính sách. Cho đến nay, đã có nhiều 12 cách tiếp cận khác nhau về chính sách công như: B.

Guy Peters (năm 1990) định nghĩa: Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân. Quan niệm này của B. Guy Peters đã bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng của chính sách công, đó là tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể [49]. Có thể hiểu, chính sách công là chính sách của Nhà nước, của Chính phủ ban hành, là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước [25, tr.

Trong khi đó, tác giả Bùi Thị Cần cho rằng chính sách công là tập hợp những quyết định có liên quan với nhau, do Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra theo định hướng chính trị của Nhà nước; đồng thời để cụ thể hóa Nhà nước cần tiến hành thực thi chính sách công là quá trình Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công [5, tr. Việc thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình hoặc dự án và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công [18, tr.335]; thực thi chính sách công còn được hiểu là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra [27, tr.123], hay là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm thực hiện hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả [19, tr. Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của Nhà nước nhằm vạch ra những định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý đối với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự 13 phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền [58, tr.

Bên cạnh đó, theo Phạm Thị Thoan cho rằng chính sách ĐTBD CBCC là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể về ĐTBD CBCC góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước [20, tr. Nhìn chung, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể trong vấn đề ĐTBD CBCC tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động diễn ra trong khuôn khổ quản lý của Nhà nước góp phần quan trọng trong thực thi công vụ của công chức. Trong nghiên cứu này, học viên tiếp cận theo quan điểm của tác giả Phạm Thị Thoan để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC Thanh tra cấp huyện ở tỉnh An Giang. Khái niệm về nhân lực ngành Thanh tra Để hiểu nghĩa chung nhất về khái niệm nhân lực ngành Thanh tra, trước tiên cần hiểu rõ khái niệm về thanh tra.

Theo Luật Thanh tra năm 2010 quy định “Thanh tra nhà nước” là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Thanh tra tỉnh), Thanh tra Sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (Thanh tra huyện). Cơ cấu tổ chức cơ bản của Thanh tra gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên [30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ