CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG, CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh trong ngân hàng thương mại. Khái niệm về hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh trong ngân hàng thương mại. Một nhận thức chung về hành vi tham nhũng, cố ý làm trái đ ược đa số thừa nhận, đó là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước.
Hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính tr ị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát tri ển. Hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định nảy sinh, tồn tại và hoành hành do s ự h ư hỏng, biến chất không chỉ của những người có chức quyền mà còn của cả những người được giao thực hiện những công vụ bình thường đã làm biến dạng quyền hạn và công vụ được giao phó. Nói cách khác, quy ền h ạn hay công vụ trao cho họ đáng lý ra phải được thực hiện vì lợi ích chung của cả tổ chức thì lại bị lạm dụng vào mục đích trục lợi cho riêng cá nhân. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2010), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của.
Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà n ước để trục lợi riêng. Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được luật phòng chống tham nhũng Việt Nam (2005) quy định, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ l ợi. Mặc dù được thể hiện theo những cách khác nhau song tham nhũng được hiểu khá thống nhất trong văn hoá pháp lý ở các nước trên th ế gi ới, đó là vi ệc l ợi dụng vị trí, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nh ằm tr ục l ợi cá 4 nhân hay nói một cách khác tham nhũng là việc s ử dụng ho ặc chi ếm đo ạt bất hợp pháp công quyền hay nguồn lực tập thể. Về tội cố ý làm trái quy định, theo quy định tại điều 165 bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế như sau: “người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng…” Bảng 1.
So sánh hành vi cố ý làm trái quy định nhà nước và hành vi tham nhũng. Cố ý làm trái các quy định nhà nước Tham ô, tham nhũng tài sản về quản lý kinh tế Một số điểm khác nhau Về dấu hiệu lỗi Hành vi tham ô tham nhũng được Hành vi cố ý làm trái quy định nhà thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp tức là nước về quản lý kinh tế gây hậu quả đối tượng thực hiện nhận thức được nghiêm trọng có thể được thực hiện hậu quả do hành vi của mình gây ra bởi lỗi cố ý gián tiếp tức là nhận thức và mong muốn hậu quả đó sẽ xảy ra. được hậu quả, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Về động cơ hành vi Đối tượng tác động chủ yếu của hành Hành vi cố ý làm trái quy định nhà vi này là tài sản thuộc sở hữu nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nước, sở hữu tập thể, tổ chức xã hội nghiêm trọng, động cơ phạm tội do mình quản lý nhằm mục đích tư không phải lúc nào cũng vì mục đích lợi (trường hợp này chủ yếu là mục tư lợi cá nhân mà còn có thể vì mục đích cá nhân).
đích cục bộ địa phương hoặc vụ đơn vị, cơ quan mình. 5 Về khách thể của hành vi Khách thể của hành vi này bao gồm: Ở hành vi này, đối tượng tác động + Quan hệ sở hữu của chủ thể là các quan hệ, chính + Hoạt động đúng đắn của cơ quan, sách quản lý kinh tế của nhà nước. tổ chức trong lĩnh vực quản lý tài sản nói chung và quản lý tài chính, kinh tế nói riêng. Về thủ đoạn hành vi Chủ yếu là lợi dụng chức vụ, Thủ đoạn chủ yếu là lợi dụng chức quyền hạn cố ý làm trái với quy vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản định của nhà nước, đôi khi còn do mình trực tiếp quản lý.
vượt quá quy định quyền hạn mà nhà nước cho phép để làm trái. Về hình phạt Cơ bản là nhẹ hơn tội tham ô, tham Về cơ bản là nặng hơn tội cố ý làm nhũng. trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế. Một số điểm giống nhau - Về chủ thể thực hiện hành vi: Cả hai hành vi chủ thể đều là những người có chức v ụ, quy ền h ạn mà lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để làm trái quy đ ịnh và chi ếm đoạt tài sản.
- Về lỗi: Cả hai hành vi đều là do cố ý, tức là biết được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại nhưng vẫn cứ làm. Cụ thể như trong hành vi cố ý làm trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng, chủ thể thực hiện nhận thức rõ hành vi của mình là trái với quy định của nhà nước về quản lý kinh tế, biết rõ hành vi của mình gây thiệt hại đến tài sản ho ặc gây ra những thiệt hại khác cho xã hội nhưng vẫn mong muốn cho hậu qu ả xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Còn đối với hành vi tham ô, 6 tham nhũng thì chủ thể thực hiện hành vi đã nhận thức rõ đ ược hành vi của mình, cố ý chiếm đoạt tài sản do mình trực tiếp quản lý. Nhìn chung, cả hai hành vi này đều có dấu hiệu về chức v ụ, ch ủ th ể và mục đích thực hiện hành vi giống nhau.
Như vậy, chúng ta có th ể đ ịnh nghĩa hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong lĩnh vực ngân hàng là hành vi của các cán bộ nhân viên trong chính hệ th ống ngân hàng nói chung, những người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Một số đặc trưng cơ bản của hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngân hàng thương mại. Thứ nhất, chủ thể tham nhũng, cố ý làm trái thường là cán b ộ nhân viên có chức vụ, quyền hạn. Đặc điểm của hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh nói chung và tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngành ngân hàng nói riêng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ.
Người có chức vụ quyền hạn ở đây được hiểu là những người có nghiệp vụ chuyên môn, am hiểu và được giao thực hiện một hoặc một số khâu quy trình nghiệp vụ của ngân hàng. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, nhân viên, chuyên viên và lãnh đạo các ngân hàng. Thứ hai, chủ thể tham nhũng, cố ý làm trái lợi dụng ch ức v ụ, quy ền hạn được giao. “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngân hàng nói riêng và hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định nói chung.
Khi th ực hi ện hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngân hàng, ch ủ th ể tham nhũng, cố ý làm trái phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình, cho ng ười 7 khác, hoặc cho tổ chức khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định. Những cán bộ ngân hàng có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định. Mặt khác, không phải mọi hành vi của các cán bộ ngân hàng có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng ch ức v ụ, quy ền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh.
Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định với các hành vi vi phạm pháp luật khác. Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định là vụ lợi. Hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định nói chung và hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngành ngân hàng nói riêng là những hành vi cố ý. Mục đích của hành vi này là vụ lợi.
Nếu chủ th ể th ực hiện hành vi gây tác hại cho hệ thống ngân hàng nhưng không cố ý thì hành vi đó không được cho là hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định. Yếu tố vụ lợi ở đây được hiểu là các lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các cán bộ nhân viên trong hệ thống ngân hàng đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi trái phép của bản thân. Hiện tại, pháp luật Việt Nam quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng, cố ý làm trái quy định nói chung và trong ngành ngân hàng nói riêng dựa trên căn c ứ xác đ ịnh nh ững l ợi ích vật chất mà những đối tượng tham nhũng, cố ý làm trái quy định đạt được, để từ đó quyết định mức xử lý. Một điểm đáng lưu ý nữa là do đặc tr ưng của ngành nên yếu tố vụ lợi trong các hành vi tham nhũng, c ố ý làm trái quy định trong ngân hàng thường chỉ là các yếu tố vật chất mà ít có yếu tố tinh thần, tuy nhiên do các thủ đoạn tham nhũng, cố ý làm trái quy đ ịnh trong ngành ngân hàng thường rất phức tạp, mang tính nghi ệp v ụ rõ nét 8 nên việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các hành vi này còn nhiều vấn đề khó xử lý.