Luận Văn ThS: Hình Ảnh Cộng Đồng LGBT Trên Báo In Sau 2 Thập Kỷ

Luận văn phân tích sự thay đổi hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo in sau 2 thập kỷ, nêu bật những khác biệt và tiến bộ trong nhận thức xã hội.

Người đăng

Ẩn danh
104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG VỀ NGƯỜI LGBT

1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1. Khái niệm hình ảnh

Tóm tắt

I. Tổng quan về hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo in

Hình ảnh cộng đồng LGBT đã trải qua nhiều biến đổi trong suốt 20 năm qua. Từ những ngày đầu, báo chí thường miêu tả cộng đồng này như một hiện tượng kỳ lạ, gây tranh cãi. Tuy nhiên, sự thay đổi trong nhận thức xã hội đã dẫn đến việc báo chí dần chuyển mình, phản ánh một cách đa chiều hơn về cộng đồng LGBT. Nghiên cứu này sẽ phân tích sự thay đổi trong cách thức đưa tin và hình ảnh của cộng đồng LGBT trên báo in.

1.1. Khái niệm và vai trò của hình ảnh LGBT trong báo chí

Hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo chí không chỉ phản ánh thực tế xã hội mà còn định hình nhận thức của công chúng. Các bài viết về LGBT thường mang tính chất giáo dục, giúp nâng cao hiểu biết và xóa bỏ định kiến.

1.2. Lịch sử hình ảnh LGBT trên báo in

Trong quá khứ, hình ảnh LGBT thường bị gắn liền với những định kiến tiêu cực. Tuy nhiên, từ năm 1990, khi WHO loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, báo chí đã bắt đầu có những thay đổi tích cực trong cách đưa tin.

II. Những thách thức trong việc đưa tin về cộng đồng LGBT

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng việc đưa tin về cộng đồng LGBT vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các nhà báo thường phải đối mặt với sự kỳ thị và định kiến từ xã hội. Điều này ảnh hưởng đến cách thức họ tiếp cận và truyền tải thông tin về cộng đồng này.

2.1. Định kiến xã hội và ảnh hưởng đến báo chí

Định kiến xã hội vẫn còn tồn tại, khiến cho nhiều nhà báo ngần ngại khi viết về LGBT. Điều này dẫn đến việc thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác.

2.2. Sự thiếu hụt thông tin và kiến thức về LGBT

Nhiều nhà báo thiếu kiến thức về LGBT, dẫn đến việc họ không thể truyền tải thông tin một cách chính xác và công bằng. Việc này cần được khắc phục thông qua các khóa đào tạo và hội thảo.

III. Phương pháp nghiên cứu hình ảnh LGBT trên báo in

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích nội dung để khảo sát các bài báo về LGBT trên 10 tờ báo in trong hai thời kỳ: 1997 và 2017. Phương pháp này giúp xác định sự thay đổi trong cách thức đưa tin và hình ảnh của cộng đồng LGBT.

3.1. Phân tích nội dung các bài báo

Phân tích nội dung giúp xác định các chủ đề chính, ngôn ngữ sử dụng và cách thức trình bày hình ảnh LGBT trong các bài báo. Điều này cho phép đánh giá sự thay đổi trong nhận thức xã hội.

3.2. Phỏng vấn chuyên gia và nhà báo

Phỏng vấn các chuyên gia và nhà báo giúp thu thập thông tin về cách họ nhìn nhận và đánh giá hình ảnh LGBT trên báo in. Điều này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và thách thức trong việc đưa tin.

IV. Kết quả nghiên cứu về hình ảnh LGBT trên báo in

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong cách thức đưa tin về cộng đồng LGBT. Các bài báo hiện nay thường mang tính chất tích cực hơn, phản ánh đúng thực tế và tôn trọng quyền lợi của cộng đồng này.

4.1. Sự thay đổi trong ngôn ngữ và cách tiếp cận

Ngôn ngữ sử dụng trong các bài báo đã trở nên trung tính và tích cực hơn. Điều này giúp giảm thiểu sự kỳ thị và nâng cao nhận thức xã hội về LGBT.

4.2. Tác động của báo chí đến nhận thức xã hội

Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức xã hội về LGBT. Các bài viết tích cực đã giúp cộng đồng này được chấp nhận hơn trong xã hội.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hình ảnh LGBT trên báo in

Nghiên cứu này chỉ ra rằng hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo in đã có những thay đổi tích cực trong suốt 20 năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc cần làm để nâng cao nhận thức và xóa bỏ định kiến. Tương lai của hình ảnh LGBT trên báo in phụ thuộc vào sự cởi mở và hiểu biết của xã hội.

5.1. Đề xuất giải pháp cho báo chí

Cần có các khóa đào tạo cho nhà báo về LGBT để nâng cao kiến thức và kỹ năng viết. Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng thông tin và hình ảnh của cộng đồng này trên báo chí.

5.2. Tương lai của cộng đồng LGBT trong báo chí

Với sự phát triển của xã hội, hình ảnh LGBT trên báo in sẽ tiếp tục được cải thiện. Cần có sự đồng hành của báo chí trong việc thúc đẩy quyền lợi và sự chấp nhận của cộng đồng này.

11/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG VÈ NGƯỜI LGBT 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hình ảnh Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học nêu thì "hình ảnh" là "Hỉnh người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ánh) hoặc đê lại ẩn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc". [38] "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" do NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000 định nghĩa rằng: "hình: dáng bên ngoài; ảnh: hình thu được", hình ảnh là "đường nét, màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong trí óc".

[13] Trong triết học, hình ảnh đuợc coi là kết quả của sụ phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức con người. Ở góc độ cảm tính thì hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng. Ở góc độ tư duy, hình ảnh là những khái niệm, phán đoán và suy luận, về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau.

Khi chưa có chữ viết, con người dùng biểu tượng, hình vẽ làm phương tiện chuyển tải thông tin. Đó là cách sơ khai nhất để lưu lại những hình ảnh trong tâm trí con người. Sau này, khi có chữ viết, con người dùng chữ viết để khắc họa hình ảnh của sự vật, hiện tượng xã hội xung quanh. Một chủ thể không chỉ được hiện lên qua những hình vẽ mà còn qua cách miêu tả bằng ngôn ngữ, chữ viết.

Hình ảnh còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận, khía cạnh quan sát của đối tượng tiếp nhận, vì vậy, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng mỗi đối tượng lại hình thành nên một hình ảnh khác nhau trong tâm trí. Hình ảnh là khoa học và nghệ thuật mô phỏng, mô tả về một đối tượng nhất định; là những hình dung về con người, đồ vật, tổ chức được hình thành trong nhận thức công chúng với sự trợ giúp của các lĩnh vực như báo chí, truyên thông, quảng cáo. Có thể nói, hình ảnh là sự quy tụ một cách 11 cô đọng nhất bản chất con người, một sự vật, hiện tượng; là ấn tượng chung mà con người, tổ chức giới thiệu đến công chúng. Từ những nghiên cứu trên, tác giả khái quát lại khái niệm hình ảnh là một ngôn ngữ đặc biệt được con người cảm nhận bằng các giác quan và ghi vào bộ não của mình về thế giới xung quanh thông qua các phương tiện vật chật cụ thể như loa, đài, máy quay, giấy, hệ thống máy tính mạng internet.

Đối với báo chí, hình ảnh sao chép, phản ánh một cách trung thực, khách quan bản chất sự việc chứ không tồn tại độc lập với đối tượng được phản ánh. Từ khái niệm "hình ảnh", có thể liên hệ tới khái niệm "hình ảnh cộng đồng LGBT' là những ấn tượng về người LGBT được khắc họa nên, tạo ra thông qua diện mạo, công việc, cuộc sống, mối quan hệ với xã hội xung quanh. Trong luận văn này, hình ảnh cộng đồng LGBT bao hàm tất cả những gì liên quan đến đối tượng người LGBT. Hình ảnh đó là kết quả của những gì người LGBT được truyền thông phản ánh, khắc họa trên báo chí.

Khái niệm báo chí, báo in Báo chí ra đời và phát triển dưới sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố, điều kiện như nhu cầu thông tin giao tiếp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chế độ chính trị - xã hội của mỗi nước và mối quan hệ giao lưu quốc tế [32]. Từ khi xuất hiện, báo chí đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực trọng điểm của đời sống xã hội bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó. Cũng như những hình thái ý thức xã hội khác, báo chí luôn lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh. Trong hoạt động báo chí, có thể định nghĩa: “Thông tin là phần tri thức được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thong” [43].

Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền thông không thể thiếu của đời sống xã hội sử dụng ngôn ngữ viết, hình ảnh tĩnh (ảnh đồ hình đồ hoạ) để chuyển tải các sự kiện vấn đề xảy ra trong đời sống xã hội, mang tính thời sự, chân thực khách quan, thông 12 qua kỹ thuật in ấn. Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chi định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vẩn đề trong đời sổng xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ẩn để chuyển tải thông tin”. Hay hiểu một cách đơn giản nhất, “Báo in là một loại hình báo chi, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, kỷ tự, hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn định nghĩa: "Báo in là những ẩn phàm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tinh chất thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội". Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,.

Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả. Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác của con người. Khái niệm về cộng đồng LGBT Giới tính là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ. Những đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò giới sau này.

Sự chuyển đối giới tính có thể do sinh học, văn hóa, kinh tế. Đặc điểm của giới tính là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền, bẩm sinh và đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hóa sinh học nên không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Giới (Gender) là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ. Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính.

Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá trình xã hội hóa. Đặc điểm của giới một phàn vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính; Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình học tập, xã hội hóa cá nhân; Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nền văn hóa; Có thể biến đổi. Xu hướng tính dục (Sexual orientation) là sự hấp dẫn có tính bền vững 13 của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Những người chịu sự hấp dẫn của người khác giới gọi là người dị tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn của người cùng giới tính gọi là người đồng tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn bởi cả hai giới gọi là người lưỡng tính luyến ái.

Bản dạng giới (Gender Identity) là cảm nhận, là cách mỗi người nhìn nhận về giới tính của mình là gì. Hành vi tình dục là những hành động như âu yếm, vuốt ve, hôn, giao hợp, v. nhằm thể hiện và thỏa mãn nhu cầu tình dục của mỗi cá nhân. Sigmund Freud (1856 - 1939) nhà khoa học người Áo, cha đẻ của ngành Phân tâm học cho rằng đồng tính luyến ái là một biến thể của chức năng tình dục do kìm hãm khát dục dẫn đến bị ức chế không đủ cho chức năng tình dục khác giới thông thường hoặc không đạt đến giai đoạn tâm lý tình dục cuối cùng của sinh lý do tấc nghẽn nguồn năng lực.

Theo Freud, con người khi sinh ra đã có bản năng tính dục nguyên thủy không tập trung, đồng tính luyến ái là một sự lệch lạc từ bản năng này. Freud không bao giờ khẳng định sự giống nhau giữa quan hệ đồng tính và sự trụy lạc của tình dục khác giới. Nhà khoa học người Áo hiểu rằng, đồng tính luyến ái là tình dục không mong muốn, nó được định hướng từ sự gợi tình ở người trưởng thành. Qua rất nhiêu nghiên cứu của chính mình và của các chuyên gia khác vê tâm thân học, tình dục học, Freud kết luận đồng tính luyến ái không phải là bệnh lý và không được đối xử người đồng tính như người bị bệnh.

Trong khi đó, ở tài liệu “Định kiến và đồng tính”, Denman (1933) cho rằng: Đồng tính, khi không bị cho là tội phạm, thường bị các nhà phân tâm học cho là một dấu hiệu nghiêm trọng của sức khỏe tâm lý yếu. Người đồng tính thường được mô tả như người bệnh và đồi trụy. Cùng quan điểm với Denman, Glasser (1986) quan niệm rằng: Đồng tính thường được mô tả như là một sự đồi trụy với những tiềm ấn về cơ bản không khác gì so với những sự đồi trụy khác như sự trần truồng hoặc ấu dâm. Người đồng tính, đặc biệt là những người lăng nhăng, thường xuyên được mô tả phải chịu những khiếm khuyết lớn 14 đi kèm.

Krikler, năm 1988 đã đưa ra những đặc tính về nhóm người đồng tính nam gồm: kỳ dị, hoang tưởng, không thành thật, xa cách và tâm thần. Nhóm tác giả gồm Simon Forrest, Grant Biddle và Stephen Clift năm 1977 đã đưa ra định nghĩa người đồng tính dưa trên ba tiêu chuẩn gồm: Có cảm giác tình dục với người cùng giới tính; Có hành vi tình dục với nhũng người cùng giới tính; Mô tả mình như người đồng tính. Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) định nghĩa: “Đồng tỉnh luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phưong diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đưong hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giói tính với nhau, trong hoàn cảnh nào đó hoặc trong một thời gian nào đó. Đồng tính luyến ái cũng chỉ sự tự nhận của cá nhãn dựa trên những hấp dẫn đồng giới và sự tham gia vào một cộng đồng cùng giới tính".

Cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn đã đưa định nghĩa: "‘'Đồng tỉnh luyến ái là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triền bình thường ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh và giám sát các hoạt động truyền thông trong xã hội hiện đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời, cũng như những thách thức mà ngành báo chí đang phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, nơi phân tích sâu hơn về quản lý báo chí tại một địa phương cụ thể. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các chính sách và thực tiễn quản lý báo chí. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ vai trò của báo chí trong việc phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, để thấy được vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức pháp luật cho cộng đồng.

Mỗi tài liệu đều mang đến những góc nhìn và thông tin bổ ích, giúp bạn mở rộng hiểu biết về lĩnh vực báo chí và quản lý nhà nước.