CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG VÈ NGƯỜI LGBT 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hình ảnh Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học nêu thì "hình ảnh" là "Hỉnh người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ánh) hoặc đê lại ẩn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc". [38] "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" do NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000 định nghĩa rằng: "hình: dáng bên ngoài; ảnh: hình thu được", hình ảnh là "đường nét, màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong trí óc".
[13] Trong triết học, hình ảnh đuợc coi là kết quả của sụ phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức con người. Ở góc độ cảm tính thì hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng. Ở góc độ tư duy, hình ảnh là những khái niệm, phán đoán và suy luận, về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau.
Khi chưa có chữ viết, con người dùng biểu tượng, hình vẽ làm phương tiện chuyển tải thông tin. Đó là cách sơ khai nhất để lưu lại những hình ảnh trong tâm trí con người. Sau này, khi có chữ viết, con người dùng chữ viết để khắc họa hình ảnh của sự vật, hiện tượng xã hội xung quanh. Một chủ thể không chỉ được hiện lên qua những hình vẽ mà còn qua cách miêu tả bằng ngôn ngữ, chữ viết.
Hình ảnh còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận, khía cạnh quan sát của đối tượng tiếp nhận, vì vậy, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng mỗi đối tượng lại hình thành nên một hình ảnh khác nhau trong tâm trí. Hình ảnh là khoa học và nghệ thuật mô phỏng, mô tả về một đối tượng nhất định; là những hình dung về con người, đồ vật, tổ chức được hình thành trong nhận thức công chúng với sự trợ giúp của các lĩnh vực như báo chí, truyên thông, quảng cáo. Có thể nói, hình ảnh là sự quy tụ một cách 11 cô đọng nhất bản chất con người, một sự vật, hiện tượng; là ấn tượng chung mà con người, tổ chức giới thiệu đến công chúng. Từ những nghiên cứu trên, tác giả khái quát lại khái niệm hình ảnh là một ngôn ngữ đặc biệt được con người cảm nhận bằng các giác quan và ghi vào bộ não của mình về thế giới xung quanh thông qua các phương tiện vật chật cụ thể như loa, đài, máy quay, giấy, hệ thống máy tính mạng internet.
Đối với báo chí, hình ảnh sao chép, phản ánh một cách trung thực, khách quan bản chất sự việc chứ không tồn tại độc lập với đối tượng được phản ánh. Từ khái niệm "hình ảnh", có thể liên hệ tới khái niệm "hình ảnh cộng đồng LGBT' là những ấn tượng về người LGBT được khắc họa nên, tạo ra thông qua diện mạo, công việc, cuộc sống, mối quan hệ với xã hội xung quanh. Trong luận văn này, hình ảnh cộng đồng LGBT bao hàm tất cả những gì liên quan đến đối tượng người LGBT. Hình ảnh đó là kết quả của những gì người LGBT được truyền thông phản ánh, khắc họa trên báo chí.
Khái niệm báo chí, báo in Báo chí ra đời và phát triển dưới sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố, điều kiện như nhu cầu thông tin giao tiếp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chế độ chính trị - xã hội của mỗi nước và mối quan hệ giao lưu quốc tế [32]. Từ khi xuất hiện, báo chí đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực trọng điểm của đời sống xã hội bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó. Cũng như những hình thái ý thức xã hội khác, báo chí luôn lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh. Trong hoạt động báo chí, có thể định nghĩa: “Thông tin là phần tri thức được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thong” [43].
Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền thông không thể thiếu của đời sống xã hội sử dụng ngôn ngữ viết, hình ảnh tĩnh (ảnh đồ hình đồ hoạ) để chuyển tải các sự kiện vấn đề xảy ra trong đời sống xã hội, mang tính thời sự, chân thực khách quan, thông 12 qua kỹ thuật in ấn. Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chi định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vẩn đề trong đời sổng xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ẩn để chuyển tải thông tin”. Hay hiểu một cách đơn giản nhất, “Báo in là một loại hình báo chi, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, kỷ tự, hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn định nghĩa: "Báo in là những ẩn phàm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tinh chất thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội". Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,.
Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả. Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác của con người. Khái niệm về cộng đồng LGBT Giới tính là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ. Những đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò giới sau này.
Sự chuyển đối giới tính có thể do sinh học, văn hóa, kinh tế. Đặc điểm của giới tính là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền, bẩm sinh và đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hóa sinh học nên không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Giới (Gender) là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ. Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính.
Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá trình xã hội hóa. Đặc điểm của giới một phàn vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính; Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình học tập, xã hội hóa cá nhân; Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nền văn hóa; Có thể biến đổi. Xu hướng tính dục (Sexual orientation) là sự hấp dẫn có tính bền vững 13 của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Những người chịu sự hấp dẫn của người khác giới gọi là người dị tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn của người cùng giới tính gọi là người đồng tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn bởi cả hai giới gọi là người lưỡng tính luyến ái.
Bản dạng giới (Gender Identity) là cảm nhận, là cách mỗi người nhìn nhận về giới tính của mình là gì. Hành vi tình dục là những hành động như âu yếm, vuốt ve, hôn, giao hợp, v. nhằm thể hiện và thỏa mãn nhu cầu tình dục của mỗi cá nhân. Sigmund Freud (1856 - 1939) nhà khoa học người Áo, cha đẻ của ngành Phân tâm học cho rằng đồng tính luyến ái là một biến thể của chức năng tình dục do kìm hãm khát dục dẫn đến bị ức chế không đủ cho chức năng tình dục khác giới thông thường hoặc không đạt đến giai đoạn tâm lý tình dục cuối cùng của sinh lý do tấc nghẽn nguồn năng lực.
Theo Freud, con người khi sinh ra đã có bản năng tính dục nguyên thủy không tập trung, đồng tính luyến ái là một sự lệch lạc từ bản năng này. Freud không bao giờ khẳng định sự giống nhau giữa quan hệ đồng tính và sự trụy lạc của tình dục khác giới. Nhà khoa học người Áo hiểu rằng, đồng tính luyến ái là tình dục không mong muốn, nó được định hướng từ sự gợi tình ở người trưởng thành. Qua rất nhiêu nghiên cứu của chính mình và của các chuyên gia khác vê tâm thân học, tình dục học, Freud kết luận đồng tính luyến ái không phải là bệnh lý và không được đối xử người đồng tính như người bị bệnh.
Trong khi đó, ở tài liệu “Định kiến và đồng tính”, Denman (1933) cho rằng: Đồng tính, khi không bị cho là tội phạm, thường bị các nhà phân tâm học cho là một dấu hiệu nghiêm trọng của sức khỏe tâm lý yếu. Người đồng tính thường được mô tả như người bệnh và đồi trụy. Cùng quan điểm với Denman, Glasser (1986) quan niệm rằng: Đồng tính thường được mô tả như là một sự đồi trụy với những tiềm ấn về cơ bản không khác gì so với những sự đồi trụy khác như sự trần truồng hoặc ấu dâm. Người đồng tính, đặc biệt là những người lăng nhăng, thường xuyên được mô tả phải chịu những khiếm khuyết lớn 14 đi kèm.
Krikler, năm 1988 đã đưa ra những đặc tính về nhóm người đồng tính nam gồm: kỳ dị, hoang tưởng, không thành thật, xa cách và tâm thần. Nhóm tác giả gồm Simon Forrest, Grant Biddle và Stephen Clift năm 1977 đã đưa ra định nghĩa người đồng tính dưa trên ba tiêu chuẩn gồm: Có cảm giác tình dục với người cùng giới tính; Có hành vi tình dục với nhũng người cùng giới tính; Mô tả mình như người đồng tính. Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) định nghĩa: “Đồng tỉnh luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phưong diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đưong hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giói tính với nhau, trong hoàn cảnh nào đó hoặc trong một thời gian nào đó. Đồng tính luyến ái cũng chỉ sự tự nhận của cá nhãn dựa trên những hấp dẫn đồng giới và sự tham gia vào một cộng đồng cùng giới tính".
Cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn đã đưa định nghĩa: "‘'Đồng tỉnh luyến ái là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triền bình thường ”.