CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Quản Lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và kháng thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác.
Hoạt động quản lý phải trả lời các câu hỏi như phải đạt được mục tiêu nào đã đề ra? Phải đạt mục tiêu như thế nào và bằng cách nào? Phải đấu tranh với ai và như thế nào? Có rủi ro gì xảy ra và cách xử lý?. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, quản lý là sản phẩm của sự phân công lao động để liên kết và phối hợp hoạt động chung của một tập thể. Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là việc phân chia nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý, vận hành công trình đảm bảo an toàn trong công tác xây dựng, khai thác và phát huy hiệu quả của hệ thống. Đây là một trong những giải pháp đã đem lại hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới.2 Hệ thống công trình thủy lợi Theo Điều 2 của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi [1], hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi (CTTL) có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định.
Dựa vào quy mô mà hệ thống 5 công trình thủy lợi được phân loại thành các cấp độ khác nhau thuộc pham vi một tỉnh, huyện, xã hoặc hệ thống liên tỉnh, liên huyện, liên xã. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên huyện là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 xã hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên.3 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Công tác thủy lợi bao gồm các giai đoạn: + Giai đoạn 1: quy hoạch, khảo sát, thiết kế + Giai đoạn 2: Tổ chức thi công xây dựng công trình + Giai đoạn 3: Tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng công trình Quản lý khai thác các CTTL là một quá trình vận hành, sử dụng và quản lý các công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và xã hội.
Sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là sản phẩm, dịch vụ do khai thác, lợi dụng công trình thủy lợi tạo ra. Khai thác tổng hợp công trình thủy lợi là việc khai thác, sử dụng tiềm năng của công trình thủy lợi để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là khoản tiền phải trả cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ thủy lợi.2 Đặc điểm của hệ thống công trình thủy lợi Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh nguồn nước. Quản lý công trình lợi là nhữnghoạt động liên quan tới vệc cấp, tưới, tiêu và thoát nước.
Công trình thủy lợi vừa có tính chất ngành sản xuất, vừa có tính là ngành dịch vụ nên đòi hỏi phả có sự quản lý hoạt động thống nhất để công trình phát huy hiệu quả cao nhất. Vì vậy, chúng ta cần phải nắm chắc một số đặc điểm cơ bản của các công trình thủy lợi.1 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật: - Đặc điểm kinh tế Vốn đầu tư xây dựng thường lớn, thu hồi vốn đầu tư trực tiếp thường chậm, hoặc không thu hồi được, kinh doanh không có lãi. Vốn đầu tư lớn đến đâu cũng chỉ phục vụ trong một phạm vi lưu vực tưới nhất định, mang tính hệ thống. Các công trình thủy lợi lấy nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn vay, vốn địa phương hoặc trích từ thủy lợi phí của các Công ty khai thác coogn trình thủy lợi và nhân dân đóng góp… Công trình được hoàn thành sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài nếu khai thác và quản lý tốt.
- Đặc điểm kỹ thuật: Công trình thủy lợi nằm rải rác trên diện rộng, chịu sự tác động của thiên nhiên và con người. Công trình phải đảm bảo hệ số tưới như đã xác định trong quy hoạch, phải đủ khả năng cung cấp nước hoặc thoát nước khi cần. Kênh mương cứng hóa đáy bê tông, thành có thể xây gạch hoặc bê tông, mặt kênh có thể hình thang hoặc hình chữ nhật.2 Đặc điểm hoạt động Các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu gồm: tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, giao thông, du lịch, chống thiên tai, cải tạo đất và môi trường sinh thái. Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiếu kế.
Hệ thống công trình thủy lợi phải có một tổ chức Nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu của các hộ sử dụng.3 Đặc điểm khai thác và sử dụng Khai thác và sử dụng công trình thủy lợi cần phải có sự kết hợp giữa những hộ đang dùng nước với người quản lý để đảm bảo tưới tiêu chủ động. Các hộ có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn, ý thức trong việc sử dụng. Đơn vị quản lý có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng và bảo vệ các công trình thủy lợi được tốt hơn. Khai thác và quản lý công trình thủy lợi tốt sẽ nâng cao được hệ số sử dụng nước hữu ích, giảm bớt lượng rò rỏ, nâng cao tính bền vững, giảm chi phí duy tu sửa chữa.
Khai thác và quản lý tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch dùng nước, thực hiện chế độ và kỹ thuật tưới phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của nông nghiệp.4 Đặc điểm nguồn tài chính và hình thức hạch toán Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm về nguồn tài chính bao gồm 2 nguồn chủ yếu sau: - Nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ: Bù đắp phần tu sửa nâng cấp công trình và các khoản chi hợp lý từ hoặc động dịch vụ chính của doanh nghiệp hoặc trợ cấp tu sửa công trình trong những năm thời tiết không thuận lợi - Các nguồn thu khác(doanh thu sản xuất): Gồm các khoản thu được ngoài phạm vi cho phép nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi, lợi thế có sẵn của doanh nghiệp.5 Đặc điểm khách hàng Sản phẩm dịch vụ thủy lượi chủ yếu là sự trao đổi mua bán bằng hình thức hợp đồng kinh tế phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, khách hàng chủ yếu vẫn là 8 chủ thể sản xuất nông nghiệp, đối tượng chủ yếu là nông dân. Do đó khách hàng có đặc điểm: - Khách hàng là bộ phận nông dân có đời sống thu nhập thấp, có trình độ canh tác khác nhau, tập quán canh tác mang nặng tính sản xuất nhỏ. Do vậy luôn tồn tại tư tưởng bảo thủ, bao cấp khó chấp nhận cái mới.
Doanh nghiệp quản lý cần xây dựng mô hình dịch vụ thích hợp với đặc điểm, tập quán và trình độ canh tác của dân cư từng vùng, từng hệ thống. - Lượng khách hàng thường ổn định nhưng nhu cầu thay đổi theo thời gian. Lúc thấp điểm thường dư thừa, công trình nhàn rỗi không thể phát huy năng lực, ngược lại lúc cao điểm cũng khó trong việc huy động nguồn bổ sung do đặc điểm hệ thống công trình.6 Đặc điểm sản phẩm - Sản xuất của các công ty thủy nông chịu tác động của điều kiện tự nhiên: khí hậu thời tiết, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng… - Địa bàn hoạt động sản xuất rộng, hệ thống công trình thủy lợi phân bố theo lãnh thổ, nằm rải rác phân tán ngoài trời, gây khó khan cho công tác quản lý, bảo vệ và điều hành sản xuất - Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty được đnáh giá thông qua sản phẩm cuối cùng của sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó kết quả của sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Việc đánh giá, xác định ảnh hưởng của từng yếu tố là một việc hết sức khó khan - Cơ sở vật chất của các công ty, một phần thuộc sở hữu tập thể, một phần thuộc sở hữu toàn dân , ranh giới chưa rõ rang, gây khó khan cho việc quản lý điều hành sản xuất - Nguồn nguyên liệu là nước trong thiên nhiên, chịu ảnh hưởng lớn của quy luật thay đổi của nước trong thiên nhiên. - Nhu cầu dung nước phụ thuộc vào yêu cầu dung nước của sản xuất nông nghiệp và các ngành dung nước nên nó phụ thuộc vào các yếu tố như thời vụ, giống, cơ cấu, chế độ canh tác… 9 - Sản phẩm hàng hóa là nước chỉ sử dụng một lần, không mang tính chất thuận nghịch, không cất trữ được. - Quá trình sản xuất giống các dạng xí nghiệp Nông nghiệp, khai thác mỏ, phân phối lưu thông. - Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mang tính chất độc quyền.