CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG 1.1Tổng quan về quản lý chất lượng xây dựng công trình 1.1 Tổng quan về công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình trên thế giới 1.1 QLCL công trình xây dựng ở một số nước trên thế giới Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Chất lượng công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia. Do vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Mỹ: Dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong quá trình xây dựng.
Bên thứ nhất là nhà thầu người sản xuất tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình. Bên thứ 2 là sự chứng nhận của bên mua (là chủ đầu tư thông qua tư vấn giám sát) về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn và các quy định của công trình hay không. Bên thứ 3 là sự đánh giá độc lập nhằm định lượng chính xác phục vụ mục đích bảo hiểm hoặc khi giải quyết tranh chấp. Pháp: (1)Từ điểm xuất phát: Quản lý chất lượng của pháp dựa trên bảo hiểm bắt buộc đối với công trình xây dựng các hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm cho công trình khi công trình không có đánh giá về chất lượng.
(2) Quan điểm quản lý chất lượng: Ngăn ngừa là chính. Dựa trên kết quả thống kê đưa ra các công việc giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa nguy cơ xảy ra chất lượng kém. - Nội dung kiểm tra: Phê duyệt thiết kế: Chất lượng thiết kế. Thi công: Biện pháp thi công, cách tổ chức thi công.
6 Mức độ vững chắc của công trình. An toàn PCCC và ATLĐ. Tiện nghi cho người sử dụng. Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng công trình: 2% tổng giá thành Bảo hành và bảo trì: Luật quy định, các chủ thể có trách nhiệm bảo hành và bảo trì sản phẩm của mình trong vòng 10 năm.
Cưỡng chế bảo hiểm công trình xây dựng: Công ty bảo hiểm tích cực thúc đẩy thực hiện chế độ giám sát quản lý chất lượng chặt trong giai đoạn thi công nhằm đảm bảo chất lượng công trình thì công ty bảo hiểm không phải gánh chịu chi phí sửa chữa, duy tu công trình. Trung Quốc: Chủ tịch Đặng Tiểu Bình chỉ rõ ” Chúng ta cần phải học cách sử dụng phương pháp kinh tế. Tự mình không hiểu thì phải học tập những người biết, học tập phương pháp quản lý tiên tiến nước ngoài” áp dụng thí điểm thành công từ năm 1996 được áp dụng toàn diện ở nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đây là công việc thuộc phạm vi trách nhiệm chủ đầu tư và được ủy thác cho một tổ chức chuyên nghiệp hóa để thực hiện việc giám sát quản lý đối với toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng một công trình.
Điều quan trọng trong giám sát quản lý không chỉ nằm ở ” giám sát” mà còn nằm nhiều ở ”quản lý” nghĩa là phải giúp chủ đầu tư quản lý toàn bộ công trình về 3 mặt kiểm soát đầu tư, kiểm soát tiến độ và kiểm soát chất lượng nhằm phát huy hiệu quả cao nhất của dự án. Cộng hòa Liên bang Nga: UBNN về xây dựng chịu trách nhiệm giúp chính phủ thống nhất QLNN về CLCTXD trên toàn lãnh thổ. Giúp cho Bộ trưởng chủ nhiệm Ủy ban thực hiện chức năng QLNN về CLCTXD là Tổng cục QLNN về CLCTXD Liên ban cùng hệ thống của mình. Lực lượng cán bộ công chức được quản lý chặt chẽ về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ.
Họ muốn được tuyển chọn phải qua các khóa học và thi để được cấp thẻ và sau 3 năm lại sát hạch. UBND về XD Liên bang Nga coi việc xây dựng đội ngũ kỹ sư tư vấn giám sát có tính chuyên nghiệp cao mang tính quyết định của tiến trình đổi mới công tác QLCLCTXD. 7 Nhật bản: (1) Coi trọng công tác thi công: Nhật Bản có một hệ thống quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ công tác giám sát thi công và cơ cấu hệ thống kiểm tra, như Luật thúc đẩy đấu thầu và hợp đồng hợp thức đối với công trình công chính, Luật Tài chính công, Luật thúc đẩy công tác đảm bảo chất lượng công trình công chính. Các tiêu chuẩn kỹ thuật dùng cho kiểm tra sẽ do các Cục phát triển vùng biên soạn, còn nội dung kiểm tra trong công tác giám sát do cán bộ nhà nước trực tiếp thực hiện.
(2) Chế độ bảo trì nghiêm ngặt: Bảo trì được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành. Bảo trì được quy định chặt chẽ bằng hệ thống các Luật, văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc chủ sở hữu và người sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì và cập nhật thường xuyên cần phải tuần thủ về công trình. Khi một khiếm khuyết về công trình được phát hiện thì chủ sở hữu phải khẩn trương sửa chữa và báo cáo kết quả với cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra. Singapore: Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.
Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt. Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp. Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện. Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình.
Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát. Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng. Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát. Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định.
Chính phủ không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc. Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc.2 Quản lý chất lượng xây dựng công trình ở Việt Nam 1.1 Thực trạng công tác quản lý dự án xây dựng Việt Nam: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế liên tục, quy mô hoạt động trong những năm gần đây ngày càng mở rộng. Chỉ trong một thời gian ngắn ngành xây dựng cũng đạt được thành tựu khả quản, có khả năng tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thế giới, tạo ra sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng như trong quản lý dự án đầu tư. Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững.
Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng. Vì vậy để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã: Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng. Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng. Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định.
Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 - 2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành. Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng. Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các 9 nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là: Những quy định về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa yếu tố chất lượng và giá dự thầu.
Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về chất lượng công trình hồ sơ mời thầu. Đặc biệt là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự tầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án.