Tổng quan về luận án

Biến đổi khí hậu (BĐKH) và suy thoái môi trường sinh thái toàn cầu đang đặt ra những thách thức sống còn đối với sự phát triển bền vững của nhân loại. Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã xác định Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất bởi thiên tai và nước biển dâng. Tại các đô thị đặc thù với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng như Thủ đô Hà Nội, áp lực môi trường sinh thái gia tăng tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh tế. Đứng trước bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Bảo vệ MT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân" [35, tr. 78], đồng thời xác định mục tiêu nâng cao ý thức bảo vệ môi trường (YTBVMT) gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Luận án tiến sĩ Chính trị học, chuyên ngành Công tác tư tưởng (Mã số: 9 31 02 01) với đề tài "Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay" của nghiên cứu sinh Đào Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Huy Kỳ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), là công trình tiên phong tiếp cận vấn đề giáo dục môi trường dưới lăng kính khoa học công tác tư tưởng.

Research Gap (Khoảng trống nghiên cứu): Mặc dù các nghiên cứu quốc tế và trong nước đã tiếp cận môi trường dưới giác độ khoa học tự nhiên, xã hội học, luật học, kinh tế học hay đạo đức học sinh thái, song tồn tại một khoảng trống lý luận và thực tiễn nghiêm trọng: chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho đối tượng sinh viên đại học như một bộ phận cấu thành hữu cơ của công tác tư tưởng. Phần lớn các chương trình giáo dục hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ trang bị tri thức phổ thông hoặc phong trào bề nổi, thiếu tính chỉnh thể về cấu trúc tâm lý - tư tưởng và cơ chế chuyển hóa nhận thức thành hành vi tự giác.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • RQ1: Cấu trúc bản chất của YTBVMT và hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường (GDYTBVMT) dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng bao gồm những thành tố nào?
  • RQ2: Thực trạng YTBVMT và công tác GDYTBVMT tại các trường đại học ở Hà Nội giai đoạn 2013-2018 đang vận động ra sao, tồn tại những nghịch lý và mâu thuẫn cơ bản nào?
  • RQ3: Những định hướng và nhóm giải pháp mang tính hệ thống nào có khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa "nhận thức lý thuyết" và "hành vi thực tiễn" của sinh viên hiện nay?
  • H1: GDYTBVMT cho sinh viên chỉ đạt hiệu quả bền vững khi tác động đồng bộ vào cấu trúc 5 thành tố: tri thức, niềm tin, tình cảm, hệ chuẩn mực giá trị và ý chí hành động.
  • H2: Sự phân hóa về chuyên ngành đào tạo (kỹ thuật, kinh tế, khoa học xã hội nhân văn, quân sự) và loại hình cơ sở đào tạo (công lập, ngoài công lập) tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với mức độ nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của sinh viên.

Phạm vi và quy mô nghiên cứu: Luận án khảo sát diện rộng tại 6 trường đại học đại diện trên địa bàn TP. Hà Nội: Đại học Thủy Lợi (khối kỹ thuật), Học viện Quản lý giáo dục (khối quản lý), Học viện Báo chí và Tuyên truyền (khối lý luận - nhân văn), Học viện Tài chính (khối kinh tế), Học viện Kỹ thuật Quân sự (khối lực lượng vũ trang), Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (khối ngoài công lập). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm học 2013-2014 đến năm 2018, kết hợp chuỗi tư liệu thứ cấp giai đoạn 2008-2018.


Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy sự phát triển qua nhiều giai đoạn của các luồng tư tưởng về môi trường, đạo đức học môi trường và giáo dục tư tưởng:

Luồng nghiên cứu quốc tế về môi trường và đạo đức sinh thái

Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, các công trình của Rachel Carson (1962), Stewart Udall (1963) và Lynn White (1967) đã đặt nền móng thức tỉnh nhận thức nhân loại. Đặc biệt, Aldo Leopold với tác phẩm kinh điển "The Land Ethics" đã chỉ rõ khủng hoảng môi trường bắt nguồn từ việc con người tự coi mình là kẻ thống trị tự nhiên thay vì là một thành viên của cộng đồng sinh thái. Đến thập niên 1990, Eugene C. Hargrove (1992) với "The animal rights, environmental ethics debate" và tuyên ngôn chung của UNEP, IUCN, WWF (1993) mang tên "Caring for the Earth: A strategy for sustainable life" đã nâng tầm đạo đức môi trường thành chuẩn mực toàn cầu. Các nghiên cứu đương đại như Colin A. (2012) với "Solutions for climate change challenges in the built environment", Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2013) về sức khỏe và BĐKH, cùng các công trình của Wang Yongchen (2006) tại Trung Quốc ("Green action in China") đã tập trung vào chính sách quản trị, kinh tế xanh và giải pháp kỹ thuật.

Luồng nghiên cứu trong nước về ý thức và đạo đức môi trường

Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã kế thừa nền tảng triết học Mác - Lênin về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa con người và tự nhiên (C. Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập). Các công trình tiêu biểu bao gồm: Nguyễn Văn Phúc (2009-2010) với đề tài cấp Bộ "Đạo đức môi trường - Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới"; Vũ Dũng (2009-2010) với điều tra cơ bản "Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay"; Vũ Trọng Dung (2009) với "Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái"; Phạm Thành Nghị (2005) với "Nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng vì sự phát triển bền vững"; và Phạm Văn Boong (2002) với "Ý thức sinh thái và sự phát triển lâu bền".

Tranh luận học thuật và định vị của luận án

Trong y giới học thuật tồn tại hai quan điểm đối lập:

  • Quan điểm vị nhân loại trung tâm (Anthropocentrism): Coi con người là trung tâm của vũ trụ, tự nhiên chỉ là phương tiện phục vụ nhu cầu xã hội.
  • Quan điểm vị sinh thái trung tâm (Ecocentrism / Biocentrism) và Sinh thái học bề sâu (Deep Ecology của Arne Naess): Đòi hỏi sự bình đẳng tuyệt đối giữa con người và muôn loài.

Luận án định vị nghiên cứu dựa trên Chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít và Tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định sự thống nhất hài hòa: con người là một bộ phận hữu cơ của tự nhiên, bảo vệ tự nhiên chính là bảo vệ điều kiện tồn tại của xã hội loài người. So với nghiên cứu của Phan Thị Hồng Duyên (2012) về giáo dục đạo đức sinh thái dưới góc độ đạo đức học hay luận án của Nguyễn Như An về phát triển năng lực bảo vệ môi trường cho sinh viên tiểu học dưới góc độ giáo dục học, công trình của Đào Thu Hiền tạo bước đột phá khi:

  1. Xác lập vị trí của YTBVMT trong hệ thống các hình thái ý thức xã hội và công tác tư tưởng của Đảng.
  2. Không dừng lại ở mô tả xã hội học thuần túy mà xây dựng mô hình giáo dục tác động trực tiếp vào bản lĩnh chính trị và thế giới quan khoa học của tầng lớp thanh niên trí thức.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kế thừa và phát triển lý luận công tác tư tưởng của Đào Duy Tùng (2008), Lương Khắc Hiếu (2017) và Phạm Huy Kỳ (2017), làm sâu sắc luận điểm: giáo dục tư tưởng trong giai đoạn hiện nay không chỉ giới hạn ở lý luận chính trị thuần túy mà phải tích hợp các nội dung mang tính thời đại, trong đó GDYTBVMT là nhiệm vụ chiến lược.

Tác giả luận án đưa ra định nghĩa mang tính chuẩn hóa:

"YTBVMT là sự phản ánh đúng đắn các vấn đề MT và mối quan hệ giữa con người với MT trên cơ sở nhận thức khoa học, thể hiện bằng tình cảm tích cực, niềm tin, ý chí mạnh mẽ trong định hướng hành vi con người theo một hệ chuẩn mực nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của con người."

Luận án đã đóng góp một bước tiến lý luận quan trọng khi phân biệt rạch ròi giữa "Ý thức sinh thái" và "Ý thức bảo vệ môi trường": Trong khi "ý thức sinh thái" phản ánh thực trạng nhận thức về giới tự nhiên theo cả hai chiều hướng (tích cực hoặc tiêu cực), thì "YTBVMT" tập trung biểu đạt khuynh hướng giá trị tích cực, định hướng hành vi hợp quy luật nhằm tái thiết lập cân bằng sinh thái.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên cấu trúc 5 thành tố biện chứng của YTBVMT:

Cấu trúc chỉnh thể của hoạt động GDYTBVMT: Luận án thiết lập mô hình hệ thống gồm 6 yếu tố tương tác: (1) Chủ thể giáo dục (Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Giảng viên); (2) Đối tượng giáo dục (Sinh viên các khối ngành); (3) Mục tiêu giáo dục (Hình thành nhân cách phát triển toàn diện, có trách nhiệm sinh thái); (4) Nội dung giáo dục (Tri thức khoa học, quan điểm chính trị, pháp luật, kỹ năng thực hành); (5) Phương pháp và phương tiện giáo dục (Giảng dạy chính khóa, hoạt động ngoại khóa, truyền thông số, nêu gương); (6) Môi trường và điều kiện giáo dục (Cơ sở vật chất, cảnh quan học đường, bầu không khí tâm lý xã hội).


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đứng trên lập trường triết học Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quán triệt các nguyên tắc phương pháp luận: tính khách quan, tính toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử - cụ thể và nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn. Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp (Mixed-Methods Design) kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.

Quy trình nghiên cứu và Chọn mẫu

  • Mẫu khảo sát định lượng: Thiết kế chọn mẫu phân tầng phi ngẫu nhiên kết hợp ngẫu nhiên cụm tại 6 trường đại học đặc thù trên địa bàn Hà Nội nhằm bảo đảm tính đại diện cao:
    1. Đại học Thủy Lợi: Đại diện khối ngành kỹ thuật công nghệ, thủy văn, tài nguyên.
    2. Học viện Quản lý giáo dục: Đại diện khối khoa học quản lý giáo dục.
    3. Học viện Báo chí và Tuyên truyền: Đại diện khối lý luận chính trị, báo chí, truyền thông xã hội.
    4. Học viện Tài chính: Đại diện khối kinh tế, tài chính - ngân hàng.
    5. Học viện Kỹ thuật Quân sự: Đại diện khối đào tạo quân sự, lực lượng vũ trang.
    6. Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội: Đại diện khối trường đại học ngoài công lập (tư thục).
  • Thu thập dữ liệu định tính: Tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia (cán bộ văn phòng đảng ủy, phòng công tác chính trị và quản lý sinh viên, ban quản lý ký túc xá, cán bộ Đoàn - Hội, giảng viên trực tiếp giảng dạy) và tổ chức các buổi thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion - FGD) với sinh viên đại diện từ năm thứ nhất đến năm thứ tư.

Xử lý và phân tích dữ liệu

Toàn bộ dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi được làm sạch, mã hóa và xử lý thống kê trên phần mềm chuyên dụng (SPSS và MS Excel). Các chỉ số thống kê mô tả (tần số, phần trăm, điểm trung bình) và thống kê suy luận được áp dụng để phân tích các biểu đồ tương quan:

  • Biểu đồ 2.1: Nhận thức của sinh viên các khóa về lĩnh vực hoạt động chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường.
  • Biểu đồ 2.2: Mức độ thực hiện các hành vi bảo vệ môi trường của sinh viên trong sinh hoạt học đường.
  • Biểu đồ 2.3: Khả năng thu hút sinh viên tham gia hoạt động môi trường của các tổ chức, đoàn thể.
  • Biểu đồ 2.4: Đánh giá của sinh viên về các lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi ô nhiễm và BĐKH.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt từ dữ liệu thực nghiệm

  1. Sự bất đối xứng giữa nhận thức tổng quan và tri thức chuyên sâu: Đại đa số sinh viên được khảo sát có nhận thức tốt về các hiện tượng ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu (phản ánh tại Biểu đồ 2.1 và 2.4). Tuy nhiên, hiểu biết về Luật Bảo vệ Môi trường, các quy chuẩn xử lý rác thải nguy hại và kỹ năng thích ứng với thảm họa sinh thái còn rất hạn chế. Sinh viên tiếp nhận thông tin chủ yếu qua mạng xã hội mang tính cảm xúc, thiếu cơ sở lý luận khoa học.
  2. Nghịch lý "Nhận thức - Hành vi" (KAP Gap): Dữ liệu từ Biểu đồ 2.2 chỉ ra khoảng cách lớn giữa nhận thức đạo đức và hành vi thực tế. Mặc dù 100% sinh viên thừa nhận xả rác bừa bãi là hành vi sai trái, nhưng tỷ lệ tự giác phân loại rác tại nguồn, hạn chế sử dụng đồ nhựa một lần hoặc chủ động tắt các thiết bị điện trong giảng đường khi không sử dụng chỉ đạt mức trung bình - yếu. Tồn tại tâm lý "ủy thác trách nhiệm" cho nhân viên vệ sinh và ban quản lý ký túc xá.
  3. Tính mùa vụ và hình thức trong hoạt động của các thiết chế: Khảo sát Biểu đồ 2.3 chứng minh Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên là lực lượng nòng cốt thu hút sinh viên tham gia bảo vệ môi trường, nhưng các phong trào đa phần mang tính bề nổi, tập trung vào các đợt cao điểm như "Tháng Thanh niên", "Ngày Chủ nhật xanh" hay "Chiến dịch Mùa hè xanh". Hoạt động thiếu tính bền vững và chưa trở thành nếp sống văn hóa hàng ngày.
  4. Sự phân hóa rõ nét giữa các khối trường đào tạo: Khối trường vũ trang (Học viện Kỹ thuật Quân sự) có tỷ lệ hành vi thực hiện nội quy vệ sinh môi trường cao nhất nhờ tính kỷ luật nghiêm ngặt. Trong khi đó, khối trường ngoài công lập và khối kinh tế có nhận thức về kinh tế xanh nhưng mức độ tham gia hoạt động công ích vì môi trường lại thấp hơn.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận công tác tư tưởng: Khẳng định GDYTBVMT là một phương thức bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, biến tri thức khoa học thành niềm tin chính trị và lý tưởng cống hiến vì sự phát triển bền vững của đất nước, đúng như khẳng định của GS. Lương Khắc Hiếu: "Đó là quá trình lĩnh hội và tiếp thu ý thức và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa biến chúng thành nhận thức, niềm tin, giá trị, lý tưởng của đối tượng" [53, tr. 154].
  • Về mặt chính sách và quản trị đại học: Cung cấp luận cứ khoa học để Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội xây dựng chuẩn đầu ra về "Năng lực và đạo đức môi trường" cho sinh viên tốt nghiệp.
  • Về mặt thực tiễn giáo dục: Đề xuất lộ trình tích hợp module "Văn hóa sinh thái và Đạo đức môi trường" vào các môn Lý luận chính trị (Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh) và các chương trình ngoại khóa định kỳ.

Limitations và Future Research

Mặc dù đạt được những kết quả toàn diện, luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn học thuật:

  1. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 6 trường đại học trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Do đặc thù đô thị trung tâm, kết quả có thể chưa phản ánh đầy đủ bức tranh YTBVMT của sinh viên tại các vùng nông thôn, trung du, ven biển hoặc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - nơi chịu tác động trực tiếp của xâm nhập mặn.
  2. Phương pháp đo lường: Dữ liệu hành vi của sinh viên một phần dựa trên phương pháp tự báo cáo (self-reported questionnaire), có thể tồn tại sai lệch mong muốn xã hội (social desirability bias).
  3. Độ mở về thời gian: Khảo sát giai đoạn 2013-2018 chưa phản ánh đầy đủ tác động của các xu hướng công nghệ mới nổi (như Trí tuệ nhân tạo, Chuyển đổi số trong quản trị rác thải học đường) sau năm 2020.

Hướng nghiên cứu tương lai:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ).
  • Sử dụng phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định định lượng trọng số tác động của từng thành tố trong mô hình 5 yếu tố lên hành vi bảo vệ môi trường.
  • Đánh giá hiệu quả của các mô hình "Đại học Xanh" (Green Campus) theo chuẩn quốc tế tại Việt Nam.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình của NCS. Đào Thu Hiền có giá trị ứng dụng trực tiếp cho các cơ quan tham mưu chiến lược như Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy Hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Việc chuẩn hóa quy trình GDYTBVMT giúp các trường đại học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, cung cấp cho thị trường lao động đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà báo, nhà quản lý không chỉ vững vàng chuyên môn mà còn có đạo đức sinh thái mẫu mực.


Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Lý luận Chính trị: Tiếp cận khung lý thuyết và phương pháp luận liên ngành giữa Chính trị học, Công tác tư tưởng và Khoa học môi trường.
  • Đảng ủy, Ban Giám hiệu các trường Đại học: Nhận diện các "điểm nghẽn" trong quản lý sinh viên, từ đó ban hành các quy chế học đường xanh và tiêu chí thi đua phù hợp.
  • Cán bộ Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên: Nắm bắt được mô hình tổ chức phong trào môi trường gắn với chiều sâu tâm lý lứa tuổi, khắc phục triệt để tính hình thức.
  • Các nhà hoạch định chính sách đô thị: Sử dụng số liệu thực trạng nhận thức của sinh viên để thiết kế các chiến dịch truyền thông cộng đồng có tính mục tiêu cao.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam sang lĩnh vực văn hóa - sinh thái, xác lập cấu trúc 5 thành tố của YTBVMT (Tri thức - Tình cảm - Niềm tin - Chuẩn mực - Ý chí). Luận án giải quyết triệt để sự nhầm lẫn khái niệm tồn tại nhiều năm qua giữa "ý thức sinh thái" và "ý thức bảo vệ môi trường", khẳng định YTBVMT mang tính định hướng giá trị tích cực và là bộ phận trọng yếu của văn hóa chính trị mới.

2. Tính đổi mới trong phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?

So với các nghiên cứu của Vũ Dũng (2010) hay Phan Thị Hồng Duyên (2012), luận án thiết kế mẫu khảo sát phân tầng đa diện bao quát 6 loại hình đại học đặc thù (Kỹ thuật, Quản lý, Chính trị - Báo chí, Kinh tế, Quân sự, Ngoài công lập). Phương pháp nghiên cứu không chỉ khảo sát đối tượng giáo dục (sinh viên) mà thực hiện đối sánh chéo với chủ thể giáo dục (cán bộ Đảng ủy, quản lý KTX, giảng viên), tạo độ tin cậy và giá trị giá trị thực chứng (triangulation) cao.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Đó là sự tồn tại của "Nghịch lý nhận thức thụ động": Sinh viên thuộc khối ngành xã hội và báo chí có điểm số nhận thức về tác hại của BĐKH rất cao nhưng mức độ sẵn sàng tham gia các hoạt động lao động công ích dọn vệ sinh môi trường thực tế lại thấp hơn sinh viên khối trường quân đội và kỹ thuật. Điều này khẳng định tri thức lý thuyết nếu không được rèn luyện qua kỷ luật và thói quen thực hành sẽ không thể tự động chuyển hóa thành ý chí hành động.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không?

Có. Luận án xây dựng quy trình 5 bước chuẩn hóa cho các cơ sở giáo dục đại học: (1) Khảo sát chuẩn đoán YTBVMT đầu khóa ➔ (2) Tích hợp module giảng dạy lý luận & chính sách ➔ (3) Tổ chức phong trào tự quản sinh thái tại ký túc xá và giảng đường ➔ (4) Xây dựng cơ chế nêu gương và chế tài đánh giá điểm rèn luyện ➔ (5) Đánh giá đầu ra chuẩn đạo đức môi trường.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tiếp theo (10-Year Research Agenda)?

  1. Xây dựng bộ chỉ số đánh giá Văn hóa Sinh thái Sinh viên Việt Nam (Vietnam Student Ecological Culture Index - V-SECI).
  2. Nghiên cứu tác động của truyền thông mạng xã hội và không gian số đối với hành vi môi trường của Gen Z.
  3. Thể chế hóa mô hình kinh tế tuần hoàn trong khuôn viên đại học (Circular Campus Framework).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Thu Hiền đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật mang tính nền tảng:

Công trình là minh chứng sâu sắc khẳng định luận điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác: "Ý thức [das Bewußtsein] không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức [das bewußte Sein], và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người" [17, tr. 37-38]. Việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ không chỉ là giải pháp ứng phó với khủng hoảng khí hậu trước mắt, mà chính là sự nghiệp "trồng người" lâu dài nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, có lối sống văn minh, sẵn sàng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh và bền vững.